Nâng cao năng lực số của đội ngũ giảng viên các nhà trường Quân đội là yêu cầu khách quan, cấp thiết, mang tính chiến lược lâu dài, xuất phát từ đòi hỏi của công tác giáo dục, đào tạo và xây dựng Quân đội hiện đại trong kỷ nguyên số. Bài viết đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt vấn đề này.
Năng lực số của đội ngũ giảng viên các nhà trường Quân đội là tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng vận dụng công nghệ số một cách sáng tạo, linh hoạt và an toàn, nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định rõ: “Nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học”. Đây là định hướng quan trọng, yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ giảng viên nói chung, giảng viên các nhà trường Quân đội nói riêng.
![]() |
| Cán bộ, giảng viên Trường Sĩ quan Lục quân 1 tham gia tập huấn về chuyển đổi số. Nguồn: qdnd.vn |
Nâng cao năng lực số của đội ngũ giảng viên các nhà trường Quân đội là tổng thể hoạt động của các chủ thể, lực lượng, nhằm trang bị cho đội ngũ giảng viên kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin, công nghệ số để khai thác, sử dụng hiệu quả các sản phẩm, hệ sinh thái số phục vụ giảng dạy, nghiên cứu; xây dựng, phát triển các học liệu số phù hợp với phương pháp sư phạm hiện đại và đặc thù quân sự; hiểu biết và tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin, dữ liệu quân sự; kỹ năng tự bảo vệ hệ thống trước các nguy cơ tấn công mạng, chiến tranh thông tin; biết vận dụng công nghệ số để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy. Đặc biệt, năng lực số của đội ngũ giảng viên thể hiện trực tiếp ở khả năng tích hợp một cách khoa học, hiệu quả công nghệ số vào toàn bộ quá trình giảng dạy, từ thiết kế bài giảng, tổ chức hoạt động học tập, đến kiểm tra, đánh giá người học trong môi trường số, v.v.
Quán triệt, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, những năm qua, các nhà trường Quân đội đã có nhiều giải pháp, từng bước nâng cao năng lực số cho cán bộ, giảng viên và đạt những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan, khách quan, việc triển khai thực hiện còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức. Đáng chú ý là, kiến thức công nghệ thông tin đội ngũ cán bộ, giảng viên không đồng đều, chưa theo kịp yêu cầu phát triển; hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật chưa đồng bộ; còn tâm lý tự ti, trì trệ, ngại đổi mới trong học tập, ứng dụng, sử dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong hoạt động công tác chuyên môn. Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, tác giả trao đổi một số giải pháp có thể nghiên cứu, vận dụng:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về tầm quan trọng của chuyển đổi số và đòi hỏi về năng lực số đối với đội ngũ giảng viên trong tình hình mới. Chuyển đổi số là một quá trình thay đổi sâu sắc về tư duy, phương thức làm việc và chỉ có thể thành công khi bắt nguồn từ sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của mỗi chủ thể. Theo đó, các nhà trường Quân đội tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chuyển đổi số, làm cho đội ngũ cán bộ, giảng viên nắm chắc bản chất của chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo không phải là số hóa tài liệu đơn thuần, mà là thay đổi căn bản mô hình dạy và học, lấy công nghệ làm nền tảng để tối ưu hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Thấy rõ tính tất yếu khách quan và yêu cầu cấp bách của việc nâng cao năng lực số, xây dựng công dân số, quân nhân số trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ hiện nay; yếu tố quyết định hiệu quả, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tập thể. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cá nhân, đặc biệt là vai trò tiên phong, nòng cốt của đội ngũ giảng viên trong quá trình này.
Cùng với đó, cấp ủy các cấp phải đưa nội dung lãnh đạo về chuyển đổi số và nâng cao năng lực số vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ và xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, khoa học, phù hợp. Đặc biệt, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp ở các nhà trường phải là người gương mẫu đi đầu trong việc học tập, ứng dụng công nghệ số trong công tác và trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện ở cơ quan, đơn vị mình, tạo bước phát triển sâu rộng phong trào ‘Bình dân học vụ số” phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ năng số trong các nhà trường; gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số với việc đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm, tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển biến nhận thức một cách bền vững.
Hai là, xây dựng và triển khai khung năng lực số, gắn với quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá giảng viên. Khung năng lực số là cơ sở, điều kiện để định hướng và thúc đẩy quá trình học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực số cho giảng viên. Theo đó, cần nghiên cứu, thiết kế, xây dựng khung năng lực số toàn diện, đặc thù cho giảng viên các nhà trường Quân đội, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và môi trường quân sự. Khung năng lực này cần được cấu trúc một cách khoa học, được chi tiết hóa thành các năng lực thành phần cụ thể. Đặc biệt, nội dung khung năng lực phải lồng ghép và nhấn mạnh các yếu tố đặc thù quân sự: kỹ năng sử dụng các phần mềm mô phỏng quân sự; năng lực bảo mật thông tin trong môi trường quốc phòng; khả năng ứng dụng công nghệ trong diễn tập, huấn luyện chiến thuật, chiến dịch và bản lĩnh chính trị khi hoạt động trên không gian mạng, v.v.
Việc xây dựng và triển khai khung năng lực số đòi hỏi sự đầu tư toàn diện về trí tuệ và nguồn lực, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, có tính mở và được cập nhật thường xuyên, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của từng học viện, nhà trường. Khung năng lực số cần tích hợp, trở thành tiêu chí, tiêu chuẩn cứng của chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn bắt buộc trong xem xét bổ nhiệm chức danh giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Đây cũng là để xây dựng chương trình, lựa chọn nội dung bồi dưỡng, tập huấn hằng năm; căn cứ để cán bộ, giảng viên soi chiếu tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy trong kỷ nguyên số.
Ba là, tập trung đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng hệ sinh thái học liệu số. Năng lực số của con người và hạ tầng công nghệ hiện đại là hai mặt của một thể thống nhất, không thể tách rời. Giảng viên dù có nhận thức tốt, kỹ năng giỏi đến đâu cũng không thể phát huy được năng lực nếu thiếu đi các công cụ, phương tiện cần thiết. Vì vậy, đầu tư cho hạ tầng và học liệu số là đầu tư cho chiều sâu, tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật vững chắc cho đội ngũ giảng viên có điều kiện tốt nhất để đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, quyết định trực tiếp đến tốc độ và chất lượng của quá trình hiện đại hóa giáo dục và đào tạo trong Quân đội.
Để đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng hệ sinh thái học liệu số đạt hiệu quả cao, cần tập trung vào hai trụ cột chính: hạ tầng cứng và hệ sinh thái nội dung số. Về hạ tầng cứng, cần tập trung đầu tư có trọng điểm vào việc xây dựng các trung tâm dữ liệu hiện đại, công tác bảo đảm an toàn; nâng cấp hệ thống mạng nội bộ (mạng LAN); đầu tư đồng bộ các phòng học thông minh, phòng thí nghiệm ảo, trung tâm huấn luyện mô phỏng. Về hệ sinh thái nội dung số, cần xây dựng một chiến lược tổng thể, dài hạn. Tiếp tục triển khai thực hiện đúng quy định, bảo đảm chất lượng và hiệu quả Kế hoạch “Chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong các nhà trường Quân đội giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”, trọng tâm là tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục khai thác có hiệu quả mạng truyền số liệu quân sự, mạng internet; bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có kỹ năng ứng dụng công nghệ số; tăng cường xây dựng học liệu số, phát triển cơ sở dữ liệu bài giảng điện tử, học liệu số trên mạng truyền số liệu quân sự,... phục vụ nghiên cứu, trao đổi, sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo động lực và môi trường thuận lợi cho giảng viên phát huy năng lực số. Thực tiễn cho thấy, cơ chế, chính sách đóng vai trò vừa thúc đẩy, vừa hỗ trợ, vừa bảo vệ những nhân tố mới, những ý tưởng sáng tạo, tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch, nơi mà sự cống hiến và năng lực thực sự được coi trọng. Đồng thời, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, môi trường là yếu tố then chốt để giải phóng tiềm năng của đội ngũ giảng viên. Vì vậy, cần cụ thể hóa việc ứng dụng công nghệ số và đổi mới phương pháp giảng dạy thành các tiêu chí định lượng trong đánh giá, bình xét thi đua hằng năm. Có chế độ khen thưởng, nâng lương, thăng quân hàm trước niên hạn đối với những giảng viên có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này. Các bài giảng điện tử, phần mềm mô phỏng có chất lượng cao cần được công nhận tương đương với các công trình khoa học. Khuyến khích và tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các hội thảo khoa học, các chương trình hợp tác, trao đổi trong và ngoài nước. Đồng thời, xây dựng quy chế về sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm số do giảng viên tạo ra, để bảo vệ quyền lợi và khuyến khích sự sáng tạo. Có thể thành lập các bộ phận hỗ trợ kỹ thuật chuyên nghiệp trong các nhà trường (hoặc liên kết, phối hợp các nhà trường, trung tâm có chuyên viên chuyên sâu về công nghệ số) để đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ giảng viên khi gặp khó khăn.
Để đạt chiều sâu, vững chắc, việc đổi mới cơ chế, chính sách phải được tiến hành kiên quyết, toàn diện và có sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống. Trên cơ sở các cơ chế, chính sách của trên, các học viện, nhà trường phải chủ động, sáng tạo trong việc cụ thể hóa thành các quy chế, quy định riêng, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của mỗi trường. Thường xuyên tổ chức các buổi đối thoại, tọa đàm giữa lãnh đạo, chỉ huy với đội ngũ giảng viên để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Cùng với đó, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc thực thi các chính sách; mạnh dạn loại bỏ những quy định đã lạc hậu, không còn phù hợp và tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, tạo ra một môi trường sư phạm quân sự thực sự dân chủ, đổi mới và hiện đại.
Nâng cao năng lực số của giảng viên trong bối cảnh hiện nay là vấn đề cấp bách, cơ bản, lâu dài. Do đó, các nhà trường Quân đội cần nghiên cứu, vận dụng đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới.
Thượng tá, TS. LÊ VĂN CƯỜNG, Giảng viên Khoa công tác đảng, công tác chính trị, Học viện Chính trị

