Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

9/9/2026 9:41:42 AM

Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn, kế thừa, phát triển sáng tạo đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIV của Đảng xác định chủ trương “xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc”1. Đây không chỉ là sự bổ sung, phát triển nội hàm của khu vực phòng thủ, mà đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng về phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ở từng địa phương, cơ sở, tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới. 

I. Từ “vững chắc” đến “chủ động, vững chắc” - bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ

Xây dựng khu vực phòng thủ là chủ trương chiến lược, bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đó là kết quả của quá trình tổng kết sâu sắc thực tiễn, tư duy biện chứng khoa học, năng lực vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc, cũng như kế thừa, phát huy những giá trị bền vững của truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước, nghệ thuật quân sự Việt Nam, đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới.

Sau ngày đất nước thống nhất, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã từng bước phát triển tư duy xây dựng thế trận phòng thủ quốc gia theo hướng lấy địa phương làm nền tảng, cơ sở làm trọng tâm, xây dựng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc từ từng địa bàn chiến lược. Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) “Về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới” là dấu mốc quan trọng, xác lập cơ sở chính trị, pháp lý và những định hướng cơ bản cho xây dựng khu vực phòng thủ; trực tiếp cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới.

Theo đó, xây dựng khu vực phòng thủ là nhiệm vụ chiến lược của cả hệ thống chính trị, của toàn dân và toàn quân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, sự chỉ đạo, tổ chức thực hiện trực tiếp của cấp ủy, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Về bản chất, khu vực phòng thủ là hình thức tổ chức phòng thủ chiến lược được xây dựng theo địa giới hành chính, nơi quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp để xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị chiến lược cơ bản, giữ vai trò trung tâm, trực tiếp xây dựng, huy động, kết nối, chuyển hóa các tiềm lực, nguồn lực của địa phương thành sức mạnh quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn. Mỗi khu vực phòng thủ vừa là một chỉnh thể tương đối độc lập, có nhiệm vụ phòng ngừa, xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh trên địa bàn theo thẩm quyền, vừa là một mắt xích trong thế trận phòng thủ quốc gia, hình thành thế trận liên hoàn trên phạm vi cả nước.

Các lực lượng của Quân đoàn 12 thực hành bắn đạn thật trong diễn tập. (Nguồn: qdnd.vn)

Nghị quyết số 28-NQ/TW đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức, tư duy chiến lược của Đảng về không gian, phương thức và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc khi chuyển từ cách tiếp cận phòng thủ chủ yếu dưới góc độ quân sự sang tư duy xây dựng khu vực phòng thủ với nội hàm toàn diện, thống nhất trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở từng địa phương. Theo đó, khu vực phòng thủ trước hết là không gian để tổ chức xây dựng, huy động, chuyển hóa tiềm lực, thế trận thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ở từng địa phương, cơ sở; đồng thời, là địa bàn trực tiếp tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương khi chiến tranh xảy ra. Tư duy đó kế thừa, phát triển sáng tạo truyền thống, nghệ thuật quân sự Việt Nam, quan điểm “làng giữ làng, nước giữ nước” trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc trong điều kiện mới, hình thành phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc từ cơ sở, lấy địa phương làm nền tảng, khu vực phòng thủ được xem là những tế bào cấu thành thế trận phòng thủ quốc gia. Trên cơ sở đó, Nghị quyết xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận, nhằm tạo lập sức mạnh quốc phòng, an ninh hiện thực trên từng địa bàn ngay từ thời bình, để mỗi địa phương là một pháo đài quốc phòng, an ninh vững chắc, thực hiện phương châm “xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”.

Sự ra đời của Nghị quyết cũng xác lập cơ sở và phương thức tổ chức thực hiện chủ trương kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, qua đó cụ thể hóa việc triển khai thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên từng địa bàn. Quan trọng hơn, Nghị quyết đã thể hiện sâu sắc tư tưởng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy” thông qua chủ động xây dựng tiềm lực, tạo lập thế trận và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân từ thời bình, tạo nền tảng vững chắc để phòng ngừa, xử lý hiệu quả mọi tình huống quốc phòng, an ninh ngay từ địa phương, cơ sở. Đặc biệt, Nghị quyết khẳng định một nguyên lý có ý nghĩa chiến lược: sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải được xây dựng từ từng địa phương, từng cơ sở, phải bắt nguồn từ lòng dân, sức dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi mỗi địa phương phát triển toàn diện, kinh tế vững mạnh, chính trị ổn định, xã hội đồng thuận, quốc phòng, an ninh vững chắc, mỗi người dân thực sự là chủ thể của nền quốc phòng toàn dân thì sẽ khơi thông, phát huy những mạch nguồn sức mạnh từ cơ sở, không ngừng bồi đắp sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo nên thế và lực ngày càng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Cùng với sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tư duy của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Trên cơ sở gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa, phát triển tư duy xây dựng khu vực phòng thủ lên một tầm cao mới khi xác định chủ trương “xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc”.

Việc bổ sung yếu tố “chủ động” trong xây dựng khu vực phòng thủ phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ nói riêng và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc trước sự biến đổi sâu sắc, khó lường của môi trường an ninh quốc tế, khu vực và sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, các nguy cơ, thách thức đe dọa an ninh quốc gia có thể nảy sinh, tích tụ, phát triển ngay từ thời bình bắt nguồn từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, chiến tranh mạng, bao vây cấm vận kinh tế, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và nhiều thách thức an ninh phi truyền thống. Thực tiễn đó làm xuất hiện những yêu cầu mới đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ hướng tới mục tiêu chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra, mà quan trọng hơn là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ xung đột, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Chính vì vậy, xây dựng khu vực phòng thủ đặt ra yêu cầu mới, không thể dừng lại ở yêu cầu “vững chắc” mà phải phát triển theo hướng “chủ động, vững chắc”; trong đó, “chủ động” trở thành yêu cầu xuyên suốt, từ dự báo chiến lược, tạo lập và duy trì lợi thế đến phát hiện sớm, xử lý hiệu quả các nguy cơ cả bên ngoài và bên trong, từ khi còn manh nha, không để tích tụ, phát triển thành thách thức, khủng hoảng, xung đột hoặc chiến tranh.

Xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp - Lá chắn thép bảo vệ cơ sở. (Nguồn: qdnd.vn)

Chủ trương xây dựng “khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra những yêu cầu mới rất cao và hàm chứa nhiều nội dung có giá trị định hướng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện ở những vấn đề chủ yếu sau:

“Chủ động” trước hết và quan trọng nhất là chủ động trong nhận thức chiến lược và tư duy hành động. Điều đó được thể hiện qua việc luôn xác định rõ đối tác, đối tượng; thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo đúng xu hướng vận động của môi trường chiến lược; nhận diện sớm các nguy cơ, thách thức và các nhân tố có thể tác động đến quốc phòng, an ninh của địa phương và đất nước. Trên cơ sở đó, chủ động chuẩn bị toàn diện các yếu tố của khu vực phòng thủ, từ xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận đến hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành và các phương án xử trí tình huống quốc phòng, an ninh không để bị động, bất ngờ.

Cụ thể là, chủ động xây dựng lực lượng theo phương châm “nòng cốt vững mạnh, toàn dân rộng khắp”, trọng tâm xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ. Chủ động tạo lập thế trận khu vực phòng thủ liên hoàn, có chiều sâu, gắn kết chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân. Đồng thời, chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống kế hoạch, văn kiện tác chiến và phương án xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và sự phát triển của các hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, nhất là tác chiến không gian mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, chiến tranh điện tử, các hoạt động chống phá từ bên trong và các thách thức an ninh phi truyền thống, v.v.

Đặc biệt, nội hàm của “khu vực phòng thủ chủ động” được thể hiện tập trung ở năng lực chủ động tạo thế, giữ thế và chuyển hóa thế từ thời bình sang thời chiến, bảo đảm luôn giữ vững quyền chủ động chiến lược trong mọi tình huống. Theo đó, tạo thế phải được tiến hành chủ động, đồng bộ trên các phương diện, từ xây dựng công trình phòng thủ, bố trí lực lượng, chuẩn bị chiến trường đến kiến tạo thế chiến lược tổng hợp vững mạnh trên từng địa bàn. Trong đó, thế chính trị ổn định là nền tảng, thế phát triển kinh tế bền vững là trung tâm, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân là nòng cốt, thế đối ngoại thuận lợi là quan trọng, “thế trận lòng dân” vững chắc là cội nguồn sức mạnh. Tất cả được gắn kết chặt chẽ, hỗ trợ và chuyển hóa lẫn nhau, tạo sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ngay từ thời bình ở từng địa phương, cơ sở.

Cùng với tạo thế thì giữ thế là thường xuyên củng cố, duy trì, phát huy các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của khu vực phòng thủ, bảo đảm thế và lực luôn được duy trì ở trạng thái ổn định, sẵn sàng. Chuyển thế là khả năng chủ động chuyển hóa thế và lực được tạo lập trong thời bình thành năng lực và sức mạnh quốc phòng, an ninh thực tế, phù hợp với từng trạng thái và tình huống, bảo đảm xử lý kịp thời, hiệu quả các nguy cơ, thách thức, không để bị động, bất ngờ. Một khu vực phòng thủ thực sự chủ động phải có khả năng phát hiện sớm, ngăn ngừa từ xa, hóa giải hiệu quả các nguy cơ đe dọa ổn định chính trị, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc, không bị động, bất ngờ trước mọi biến cố. Khi chiến tranh xảy ra, phải có khả năng chuyển nhanh sang các trạng thái quốc phòng, huy động, phát huy hiệu quả mọi tiềm lực, thế trận để tổ chức tác chiến phòng thủ và giữ vững quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo, kiểm soát, làm chủ diễn biến tình hình, v.v.

Việc bổ sung yêu cầu “chủ động” làm thay đổi căn bản nội hàm xây dựng khu vực phòng thủ. “Chủ động” không chỉ trong chuẩn bị lực lượng, phương án tác chiến sẵn sàng ứng phó khi có tình huống xảy ra, mà sâu xa hơn là chủ động trong tư duy chiến lược, chủ động kiến tạo điều kiện bảo vệ Tổ quốc, làm chủ môi trường quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống. Đây chính là điểm phát triển mới, khác biệt căn bản giữa yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ “vững chắc” trước đây với xây dựng khu vực phòng thủ “chủ động, vững chắc” theo Đại hội XIV của Đảng.

Về “vững chắc”, nội hàm của khái niệm này không chỉ là sự kiên cố về công trình phòng thủ, dồi dào về lực lượng hay khả năng sẵn sàng chiến đấu, mà trước hết và quan trọng nhất là sự vững chắc về chính trị, tư tưởng và thế trận lòng dân. Đó là sự ổn định, vững chắc về vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, sự đoàn kết thống nhất của cả hệ thống chính trị, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đồng thời, là sự vững chắc của tiềm lực tổng hợp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; của thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân; của cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp và khả năng huy động, điều hành, chuyển hóa mọi tiềm lực, nguồn lực của địa phương thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc khi có tình huống.

Như vậy, “vững chắc” trong xây dựng khu vực phòng thủ vừa phản ánh mức độ bền vững của các tiềm lực, lực lượng và thế trận, vừa thể hiện năng lực duy trì sự ổn định, tăng cường sức chống chịu, khả năng thích ứng và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp trước mọi biến động của môi trường chiến lược. Đó là nền tảng để khu vực phòng thủ luôn giữ được trạng thái ổn định, chủ động, sẵn sàng chuyển trạng thái và đủ năng lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

“Chủ động” và “vững chắc” là hai yêu cầu của khu vực phòng thủ trong điều kiện mới, có quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó hữu cơ, bổ sung và chuyển hóa lẫn nhau. Trong đó, “chủ động” phản ánh tính động của khu vực phòng thủ; “vững chắc” phản ánh tính bền vững của nền tảng phòng thủ. “Chủ động” là điều kiện để xây dựng sự “vững chắc” thực chất, bền vững; ngược lại, “vững chắc” là nền tảng để duy trì và phát huy tính “chủ động” trong mọi tình huống. Như vậy, việc bổ sung yêu cầu “chủ động” đã làm cho nội hàm của khu vực phòng thủ chuyển từ “trạng thái tĩnh” sang “trạng thái động”, có khả năng thích ứng, chống chịu và phục hồi trước các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hình thái chiến tranh mới, các tình huống khủng hoảng và sự biến đổi phức tạp của môi trường chiến lược.

Có thể khẳng định, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc là sự phát triển quan trọng trong tư duy về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Đó là sự phát triển tư duy từ phòng thủ thiên về ứng phó sang tư duy phòng thủ chủ động, kiến tạo; từ chuẩn bị đối phó với chiến tranh sang chủ động quản trị các nguy cơ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột; từ xây dựng sức mạnh để sẵn sàng đánh thắng chiến tranh sang chủ động tạo thế, tạo lực, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và lợi thế chiến lược ngay trong thời bình để phát triển đất nước. Sâu xa hơn, tư duy đó mở rộng cách tiếp cận khu vực phòng thủ từ một “không gian phòng thủ” sang một “không gian quản trị chiến lược” trên từng địa bàn; trong đó, khu vực phòng thủ trở thành không gian tích hợp giữa phát triển và bảo vệ, nơi tạo thế, tạo lực, quản trị nguy cơ và chuyển hóa nguồn lực tổng hợp của địa phương thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây chính là sự cụ thể hóa sâu sắc, sinh động quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; đồng thời, thể hiện bước phát triển mới trong phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Đảng, lấy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân làm nền tảng, kết hợp chặt chẽ sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tạo thế và lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đại tá NGUYỄN MẠNH TUẤN, Phó Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

(Tiếp theo: II. Phát huy sức mạnh tổng hợp, lập thế, tạo lực xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc)


1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 114.