Nghệ thuật tạo lập thế trận trong trận then chốt mở đầu Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972

10/29/2026 10:31:33 AM

Tiến công cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh là trận then chốt mở đầu Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972. Bằng nghệ thuật tạo lập thế trận tiến công vững chắc, hiểm hóc, linh hoạt, ta đã từng bước tạo thế, tạo lực, khoét sâu điểm yếu trong hệ thống phòng ngự của địch, giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, mở ra thời cơ và điều kiện thuận lợi để Chiến dịch phát triển.

Ngay từ đầu năm 1972, trên cơ sở phán đoán ta sẽ tiến công vào Tây Nguyên từ hướng Bắc, địch điều động, bổ sung lực lượng, phương tiện tổ chức các cứ điểm quy mô cấp tiểu đoàn để chốt giữ các điểm cao, khống chế các trục giao thông quan trọng, nhất là Đường 14 và Đường 18; đồng thời, bảo vệ khu vực phía Tây sông Pô Kô. Đến cuối tháng 02/1972, thế bố trí của địch ở Bắc Tây Nguyên hình thành 03 cụm cứ điểm phòng ngự mạnh: Đắk Tô - Tân Cảnh, thị xã Kon Tum và Pleiku1. Sự bố trí đó tạo cho địch ưu thế nhất định về hỏa lực, công sự và khả năng chi viện lẫn nhau, hình thành một thế trận mà chúng cho rằng “bất khả chiến bại”.

Bộ đội ta tiến công vào cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh. Ảnh tư liệu TTXVN

Về ta, bám sát quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên2, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch, thúc đẩy phát triển thế tiến công chiến lược trên toàn Miền. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá toàn diện về địch, địa hình và khả năng tác chiến của ta, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lựa chọn trận tiến công cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh là trận then chốt mở đầu Chiến dịch.

Với sự mưu trí, lòng dũng cảm, quyết tâm cao và cách đánh linh hoạt, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong trận Đắk Tô - Tân Cảnh, tạo hiệu quả chiến dịch rõ nét; đồng thời, thể hiện nhiều nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó nổi bật là nghệ thuật tạo lập thế trận.

Một là, xác định mục tiêu tiến công phù hợp với khả năng, bảo đảm đánh chắc thắng. Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là hướng phối hợp quan trọng với hướng tiến công chiến lược chủ yếu ở Trị - Thiên. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với trận mở đầu phải đánh chắc thắng để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Chiến dịch, cũng như thế tiến công chiến lược trên toàn Miền. Trong 03 cụm cứ điểm phòng ngự của địch ở Bắc Tây Nguyên, thị xã Kon Tum là cụm cứ điểm mạnh nhất; cụm cứ điểm thị xã Pleiku lại nằm sâu trong hậu phương của địch. Để tiến công vào hai mục tiêu này, ta phải đột phá qua những trung tâm phòng ngự mạnh và đối mặt với nguy cơ địch phản kích từ nhiều hướng. Đặc biệt, thị xã Kon Tum là nơi địch bố trí lực lượng mạnh, hiểm yếu nhất, nếu tiến công tiêu diệt được mục tiêu này, ta có thể nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng ngự liên hoàn, vững chắc của địch ở Bắc Tây Nguyên. Tuy nhiên, tiến công vào đây, ta sẽ chịu nhiều tổn thất và có nguy cơ bị lực lượng địch từ Pleiku và Đắk Tô - Tân Cảnh cơ động phản kích, ứng cứu, dẫn đến khả năng giành thắng lợi không cao. Mặt khác, tiến công 02 cụm cứ điểm này, đội hình chiến đấu của ta ở xa hậu phương chiến dịch, công tác bảo đảm sẽ gặp nhiều khó khăn.

Từ phân tích toàn diện những yếu tố đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định chọn cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh là mục tiêu đánh trận then chốt mở đầu. Bởi vì, Đắk Tô - Tân Cảnh cũng là một cụm cứ điểm phòng ngự mạnh và hiểm yếu trong hệ thống phòng ngự của địch ở Bắc Tây Nguyên, nếu ta tiến công sẽ phá vỡ hệ thống phòng ngự liên hoàn, tạo phản ứng dây chuyền, mở ra điều kiện thuận lợi để phát triển tiến công thị xã Kon Tum. Do địch tổ chức trận địa phòng ngự theo chiều sâu, nên dễ bị chia cắt, cô lập. Hơn nữa, mục tiêu này ở gần hậu phương chiến lược và chiến dịch của ta, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức lực lượng và bảo đảm, nhất là về hậu cần, kỹ thuật. Với tư duy và nhãn quan quân sự sắc bén, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chọn đúng điểm đột phá, trên cơ sở đó tạo lập được thế trận có lợi, nên chỉ sau khoảng 10 giờ tiến công, ta đã làm chủ toàn bộ cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh.

Hai là, tạo lập thế trận tiến công vững chắc, thực hiện bao vây, chia cắt chiến dịch. Trong cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh, Căn cứ 42 - Tân Cảnh giữ vị trí then chốt; là trung tâm chỉ huy của cụm cứ điểm và các cứ điểm xung quanh. Do đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tập trung lực lượng, phương tiện tiến công vào Căn cứ 42 - Tân Cảnh; đồng thời, vây hãm các mục tiêu còn lại, không cho địch có điều kiện ứng cứu. Theo quyết tâm Chiến dịch, Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn Đặc công 37, Đại đội Xe tăng 7, Đại đội Pháo phòng không tự hành 53, Đại đội Tên lửa chống tăng 29 (B72) và một số đơn vị binh chủng, tiến công vào Căn cứ 42 - Tân Cảnh theo 04 hướng: Đông, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam. Trung đoàn 1 (thiếu) được tăng cường Tiểu đoàn Đặc công 10/Sư đoàn 2 tiến công Căn cứ Đắk Tô 2. Trung đoàn 141 tiến công quận lỵ Đắk Tô. Tiểu đoàn 40 (Trung đoàn 1) làm dự bị. Lực lượng pháo binh được bố trí thành 03 cụm trên 03 hướng chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên ta sử dụng xe tăng và pháo binh hạng nặng tham gia chiến đấu, phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng, nhất là sức đột kích của xe tăng, tạo nên thế tiến công vững chắc, đủ sức đột phá từng lớp phòng ngự của địch.

Điểm nổi bật trong nghệ thuật tạo lập thế trận của ta là đồng thời tổ chức thế bao vây, chia cắt, cô lập trên phạm vi rộng. Trước khi Chiến dịch diễn ra, địch đã điều Lữ đoàn 2 dù lên lập tuyến phòng thủ ở dãy điểm cao 1049, 1015 (phía Tây sông Pô Kô) hình thành thế trận phòng ngự dài, hẹp, liên hoàn, có chiều sâu. Vì vậy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định chưa tiến công vào mục tiêu chủ yếu, mà thực hành chia cắt, cô lập cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh với các mục tiêu khác, từng bước phá thế phòng ngự liên hoàn, vững chắc của địch.

Tượng đài chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh.

Thực hiện ý định đó, Chiến dịch sử dụng Trung đoàn 28 và Trung đoàn 95 đánh cắt, khống chế giao thông trên Đường 14 theo hai tầng. Tầng thứ nhất, cắt Đường 14 từ Bắc Kon Tum đến Tân Cảnh (ở Võ Định), ngăn chặn khả năng cơ động ứng cứu bằng đường bộ khi ta đánh vào Đắk Tô - Tân Cảnh. Tầng thứ hai, cắt Đường 14 từ Bắc thị xã Pleiku đến Nam Kon Tum (đoạn Chư Thoi) nhằm giam chân Sư đoàn 23 ở thị xã Pleiku. Đặc biệt, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo Sư đoàn 320 “chọc thủng” tuyến phòng thủ ở dãy điểm cao 1.049, 1.015, tạo sức ép uy hiếp trực tiếp thị xã Kon Tum, buộc Sư đoàn dù - lực lượng có khả năng ứng cứu trực tiếp cho Đắk Tô - Tân Cảnh phải co lại phòng giữ, hạn chế khả năng cơ động ứng cứu. Như vậy, thế trận tiến công của ta được tạo lập bởi đồng thời các hoạt động bao vây mục tiêu chủ yếu, chia cắt các hướng khác, phá vỡ liên kết trong thế trận phòng ngự liên hoàn của địch, tiến đến cô lập Đắk Tô - Tân Cảnh.

Cùng lúc đó, trên chiến trường Quảng Trị, ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, giải phóng Gio Linh và Cam Lộ. Nhận ra Trị - Thiên mới là hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta, quân địch lúng túng, vội điều quân từ khắp nơi để ứng cứu, trong đó có phần lớn lực lượng của Sư đoàn dù (đang ở thị xã Kon Tum cơ động về Bình Long) để tăng cường cho hướng Quảng Trị. Hành động này khiến cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh trở nên cô lập hoàn toàn, không còn lực lượng ứng cứu. Đây chính là thời cơ tốt nhất để ta tiến công tiêu diệt.

Ba là, tích cực nghi binh, lừa địch, tạo bất ngờ về chiến dịch và chiến thuật. Nghi binh là hoạt động tác chiến cùng với các hoạt động khác nhằm đánh lừa đối phương về lực lượng, vị trí bố trí, hướng và mục tiêu tiến công, khiến đối phương nhận định, phán đoán sai, dẫn đến hành động sai lầm. Trong trận tiến công cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh, ta đã vận dụng nghệ thuật nghi binh, lừa địch rất linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, làm cho địch nhận định sai về hướng tiến công chủ yếu, để lộ những sơ hở trong thế trận phòng ngự. Trước khi tiến công, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo làm hai con đường “vừa thật, vừa giả” cho xe cơ giới cơ động ở Tây Bắc thị xã Kon Tum, nối từ khu vực biên giới qua dãy núi phía Tây sông Pô Kô vào Đường 14, khiến địch lầm tưởng ta sẽ đánh thị xã Kon Tum trước. Từ nhận định sai lầm nghiêm trọng này, địch đã điều 02 lữ đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược và Liên đoàn 22 Biệt động quân ra ngăn chặn, tập trung đề phòng hướng Kon Tum, để lộ sơ hở hướng Đắk Tô - Tân Cảnh.

Trên hướng Đắk Tô - Tân Cảnh, địch nhận định “Việt cộng sẽ đánh theo Đường 18 từ Plei Cần xuống, chỉ có con đường này, Việt cộng mới đưa xe tăng vào được”3, các hướng khác có nhiều cứ điểm, căn cứ của chúng khống chế, nhất là ở phía Đông có dãy núi Ngọc Linh rất cao, nên ta không thể đưa xe tăng, pháo binh vào triển khai. Từ đó chúng xác định hướng phòng ngự chủ yếu là Bắc và Tây Bắc. Vì vậy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo công binh của Sư đoàn 2 làm lại cầu Đắk Mót trên Đường 18. Đồng thời, tổ chức lực lượng đánh vào các cứ điểm vòng ngoài, nhất là ở dãy Ngọc Tụ, nhằm thu hút sự chú ý và tiếp tục củng cố phán đoán sai lầm, khiến địch càng thêm chủ quan, tập trung phần lớn lực lượng đón đánh ta tiến công từ hướng Tây và Tây Bắc, và mất cảnh giác đề phòng các hướng khác. Bằng những hoạt động nghi binh linh hoạt, sáng tạo, ta đã dẫn dắt địch đi từ phán đoán sai đến hành động sai, tạo điều kiện, thời cơ bí mật làm gấp con đường 50K (theo sườn Đông dãy núi Ngọc Linh), đưa lực lượng chủ yếu, xe tăng, pháo binh, vòng sang phía Đông Căn cứ 42 - Tân Cảnh để triển khai. Từ đó, bất ngờ tiến công theo hướng Đông, nơi địch không ngờ tới, nhanh chóng tiêu diệt, giải phóng Đắk Tô - Tân Cảnh.

Trận tiến công vào cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh đã hoàn thành xuất sắc vai trò trận then chốt mở đầu Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972, tạo điều kiện thuận lợi để Chiến dịch phát triển xuống phía Nam đánh vào thị xã Kon Tum. Những kinh nghiệm tổ chức chuẩn bị và thực hành tác chiến trong trận đánh này cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Đại tá, ThS. HỒ QUỐC THẮNG, Trưởng Khoa Binh chủng hợp thành, Trường Quân sự Quân khu 1
_______________________
        

1 - Ở Đắk Tô - Tân Cảnh có Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 22 bộ binh, 02 trung đoàn (42 và 47), 01 tiểu đoàn của Trung đoàn 41, Trung đoàn 14 thiết giáp, 02 tiểu đoàn pháo binh, 02 tiểu đoàn bảo an. Thị xã Kon Tum có Sư đoàn dù (thiếu), 02 liên đoàn biệt động quân (2 và 6). Thị xã Pleiku có Sư đoàn 23 bộ binh.

2 - Lực lượng tham gia Chiến dịch: Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), Trung đoàn Pháo binh hỗn hợp 675, đại đội tên lửa chống tăng, 04 tiểu đoàn phòng không, 01 đại đội pháo phòng không tự hành, 01 tiểu đoàn xe tăng, 01 trung đoàn công binh. Lực lượng của Mặt trận Tây Nguyên có 04 trung đoàn bộ binh (24, 95, 66, 28) và một số đơn vị binh chủng.

3 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam – Một số kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu của Thượng tướng Nguyễn Chơn, Nxb QĐND, H. 2004, tr. 116.