Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người có những cống hiến to lớn trong phát triển và vận dụng sáng tạo tư duy về chiến tranh nhân dân vào thực tiễn, góp phần làm nên thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những bài học đó tiếp tục là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, trong tình hình mới.
![]() |
| Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số 1 Quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ảnh tư liệu |
Tư duy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về “chiến tranh nhân dân”
Với sự kết hợp độc đáo giữa tinh hoa quân sự truyền thống, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận quân sự hiện đại, tư duy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về “chiến tranh nhân dân” có vai trò nền tảng, thể hiện tài thao lược trong những chiến thắng lịch sử của dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong chiến đấu bảo vệ biên giới của Tổ quốc.
Để một quốc gia nhỏ bé, nguồn lực hạn chế, có thể đánh bại các cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, vượt trội về vũ khí, công nghệ, kinh tế, làm nên những chiến thắng vĩ đại, như: Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975,… Đại tướng đã phát triển nghệ thuật “chiến tranh nhân dân” của cha ông lên một tầm cao mới, dựa trên nguyên tắc huy động sức mạnh của toàn dân tộc. Theo Đại tướng, “chiến tranh nhân dân” là cuộc chiến tranh của toàn dân, do toàn dân và vì toàn dân, trong đó nhân dân vừa là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, vừa là hậu phương vững chắc cho quân đội”1. Khác với các học thuyết quân sự trên thế giới thường tập trung vào sức mạnh của quân đội chính quy, “chiến tranh nhân dân” Việt Nam đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, với sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chính quy, dân quân tự vệ và các giai tầng trong xã hội.
Giá trị cốt lõi trong tư duy “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thể khái quát ở những nội dung sau:
Thứ nhất, cội nguồn sức mạnh của “chiến tranh nhân dân” là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh cách mạng Việt Nam đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, Đại tướng nhận ra rằng chỉ có sự đoàn kết của toàn dân mới có thể tạo nên sức mạnh đủ lớn để đối phó với kẻ thù. Sức mạnh lớn nhất nằm ở sự đồng lòng của mọi tầng lớp Nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng. Từ những đoàn dân công hỏa tuyến băng rừng, lội suối tiếp tế cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, đến những “vành đai diệt Mỹ” bám đất, giữ làng ở miền Nam, tất cả đều minh chứng cho chân lý ấy.
![]() |
| Đại tướng Võ Nguyên Giáp theo dõi diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu |
Thứ hai, “chiến tranh nhân dân” trong tư duy của Đại tướng luôn linh hoạt, sáng tạo, không theo các khuôn mẫu quân sự cứng nhắc mà dựa trên sự thích nghi với hoàn cảnh cụ thể. Điểm nổi bật là chiến lược “lấy yếu đánh mạnh”. Trong hoàn cảnh thiếu thốn về trang bị, Đại tướng đã chỉ đạo quân ta tận dụng địa hình, lòng dân và sự đoàn kết để sáng tạo các chiến thuật linh hoạt, như: chiến thuật du kích, “vây lấn”, chiến tranh vận động,… làm suy yếu kẻ thù, biến hạn chế thành lợi thế.
Thứ ba, “chiến tranh nhân dân” là sự huy động tổng hợp tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội kết hợp với sức mạnh thời đại. Đây không chỉ là cuộc chiến quân sự mà còn là sự kết hợp giữa các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao, tạo nên cuộc chiến tổng lực với sự tham gia của toàn dân. Đại tướng khẳng định: “Sức mạnh của chúng ta không chỉ ở súng đạn mà ở lòng dân, ở ý chí bất khuất của cả dân tộc”2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các chiến dịch tuyên truyền, vận động quốc tế và xây dựng hậu phương vững mạnh đã hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động quân sự. Tương tự, phong trào phản chiến trên thế giới được khơi nguồn từ các chiến thắng của Việt Nam, đã tạo áp lực lớn lên chính phủ Mỹ, góp phần vào thắng lợi cuối cùng.
Tư duy “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được kiểm nghiệm và phát triển qua các giai đoạn cách mạng, để lại giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Vận dụng tư duy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về “chiến tranh nhân dân” trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, khi thế giới đang trải qua những biến đổi sâu sắc, phức tạp và khó lường, việc vận dụng những giá trị cốt lõi trong tư duy “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vô cùng cần thiết.
Một là, chuyển hóa tinh thần đoàn kết toàn dân tộc trong tư duy “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng thành “thế trận lòng dân” vững chắc của nền quốc phòng toàn dân. Nhiệm vụ trọng yếu là tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và củng cố niềm tin của Nhân dân, nhất là ở các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Tập trung phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, công bằng xã hội, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Đẩy mạnh các chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
![]() |
| Đại tướng động viên Đội vận tải thuyền sông Gianh (Quảng Bình) năm 1968. Ảnh tư liệu |
Cùng với đó, tích cực tuyên truyền chính sách, truyền thống văn hóa, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc cho mỗi người dân Việt Nam; đẩy mạnh đổi mới tư duy và phương thức giáo dục quốc phòng, an ninh cho thế hệ trẻ. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, công tác giáo dục truyền thống, giáo dục quốc phòng và an ninh cần phải số hóa, đa dạng hóa hình thức, phương pháp; chú trọng tuyên truyền trên không gian mạng, tích hợp nội dung vào các sản phẩm văn hóa, công nghệ phù hợp với thị hiếu người dân, nhất là giới trẻ. Mục tiêu tối thượng là làm cho mọi người dân hiểu rõ: bảo vệ Tổ quốc không phải là việc riêng của lực lượng vũ trang, mà là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân. Khi lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức quốc phòng thấm sâu vào mỗi người, Việt Nam sẽ có một thế trận phòng thủ vững chắc ngay từ trong nhận thức - “thế trận lòng dân” của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.
Hai là, vận dụng tư duy “linh hoạt, sáng tạo” trong “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng nhằm hiện đại hóa Quân đội và nghệ thuật quân sự. Đặc trưng nổi bật của nghệ thuật quân sự Việt Nam là tính linh hoạt, luôn biến hóa tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Sự sáng tạo đó bắt nguồn từ tư duy thực tế của cha ông ta: “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy yếu chống mạnh”, “dùng đoản binh để chế trường trận”, v.v.
Hình thái chiến tranh đã thay đổi căn bản với sự xuất hiện của vũ khí công nghệ cao, điều khiển chính xác, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và chiến tranh mạng, đòi hỏi tư duy “chiến tranh nhân dân” cũng phải được nâng tầm bằng tri thức và khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong đó, tập trung hiện thực hóa ba vấn đề cốt lõi.
Thứ nhất, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại; chủ động nghiên cứu và dự báo, đổi mới tư duy tác chiến. Theo đó, cần nghiên cứu, bổ sung lý luận về cách thức huy động sức mạnh toàn dân trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao, vũ khí chính xác và tác chiến không gian mạng. Chuyển mạnh tư duy từ “ứng phó khi có chiến tranh” sang “chủ động phòng ngừa, triệt tiêu các nguy cơ chiến tranh”; chú trọng các giải pháp phi vũ trang, như: đấu tranh pháp lý, đối ngoại quốc phòng, v.v. Tập trung phát triển nghệ thuật quân sự toàn diện cả về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Đồng thời, Quân đội cần chủ động xây dựng các kịch bản phòng thủ linh hoạt theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” và có phương án khắc chế hiệu quả bằng nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.
Thứ hai, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh, hiện đại” theo lộ trình khoa học, chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa yếu tố con người, tổ chức biên chế và vũ khí trang bị. Đó phải là quá trình tối ưu hóa cấu trúc lực lượng; trong đó, xây dựng biểu tổ chức biên chế thời bình và thời chiến một cách khoa học, bảo đảm khi cần thiết có thể nhanh chóng chuyển trạng thái và mở rộng lực lượng. Bên cạnh xây dựng lực lượng thường trực cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, cần phát triển dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, nâng cao chất lượng chính trị, khả năng sẵn sàng chiến đấu và xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng cao.
Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Đây là một trong những đột phá chiến lược được nhấn mạnh trong định hướng phát triển đất nước và xây dựng Quân đội. Mục tiêu là đưa công nghiệp quốc phòng thực sự trở thành mũi nhọn của nền công nghiệp quốc gia, vừa bảo đảm khả năng tự chủ vũ khí trang bị, vừa đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung triển khai hiệu quả Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, tạo dựng khung pháp lý đồng bộ và cơ chế thông thoáng để thu hút mọi nguồn lực xã hội. Xây dựng cơ chế đặc thù, vượt trội với các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, đất đai và bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các dự án nghiên cứu, chế tạo vũ khí, trang bị công nghệ cao.
Cùng với đó, thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ, giảm thiểu thủ tục hành chính để tối ưu hóa quy trình từ nghiên cứu thử nghiệm đến sản xuất. Tập trung đầu tư nguồn lực cho các tập đoàn, viện nghiên cứu trong nước làm chủ công nghệ sản xuất, cải tiến các loại khí tài hiện đại, vũ khí chiến lược, đặc biệt là các hệ thống thông tin liên lạc, tác chiến điện tử và công nghệ điều khiển thông minh, hướng đến tự chủ được công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ với công nghiệp quốc gia, sẵn sàng chuyển đổi năng lực sản xuất giữa thời bình và thời chiến.
Ba là, tư duy phát huy sức mạnh tổng hợp trong “chiến tranh nhân dân” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - phương thức triển khai cốt lõi để hiện thực hóa nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại; gắn phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Mỗi bước phát triển kinh tế phải là một bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; tích hợp yếu tố lưỡng dụng trong tất cả các quy hoạch chiến lược vĩ mô và từng lĩnh vực của nền kinh tế. Chủ động, kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược rộng khắp, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, tạo thế và lực vững chắc cho đất nước. Nâng cao năng lực ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống với sự kết hợp tổng hợp giữa năng lực quản lý của Nhà nước, sự phản ứng nhanh của lực lượng vũ trang và sức mạnh tự quản của cộng đồng, tạo lá chắn bảo vệ sự ổn định bền vững của đất nước, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, giữ vững hòa bình, toàn vẹn lãnh thổ để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.
TS. TRẦN NGỌC NHIỀU, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (khu vực III)
_____________________
1 - Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb. QĐND, H. 2004, tr. 45.
2 - Bộ Quốc phòng – Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Nxb. CTQGST, H. 2021, tr. 67.







