Những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong Chiến dịch Tây Ninh năm 1966

9/28/2026 1:31:15 PM

Trong Chiến dịch Tây Ninh năm 1966, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã đánh bại cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ của Mỹ - ngụy vào căn cứ Dương Minh Châu, bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo của Miền. Thắng lợi của Chiến dịch đánh dấu bước phát triển nhanh về nghệ thuật quân sự, nhất là nghệ thuật chiến dịch phản công.

Bị thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, mùa khô năm 1966 - 1967, Mỹ - ngụy tập trung huy động số lượng lớn lực lượng, phương tiện (khoảng 40% lực lượng chủ lực quân Mỹ trên chiến trường miền Nam) tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ hai vào hướng miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là Chiến khu C và Chiến khu Đ.

Với mục tiêu cao nhất là tìm diệt chủ lực Quân giải phóng và cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Miền, nên khi phát hiện một số kho hậu cần và dấu vết hoạt động của bộ đội chủ lực ta, địch lập tức tăng cường lực lượng, điều động Sư đoàn 1, Sư đoàn 25 (thiếu), Lữ đoàn 196, một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù 173 quân Mỹ, cùng một số đơn vị quân ngụy Sài Gòn mở cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ vào căn cứ Dương Minh Châu (ở Bắc Tây Ninh), nhằm thực hiện ý đồ “tìm diệt” Sư đoàn 9 Quân giải phóng và “chụp bắt” cơ quan đầu não kháng chiến của Miền, tạo thế có lợi cho cuộc phản công chiến lược.

Quân Mỹ đổ bộ bằng máy bay trực thăng. Ảnh tư liệu

Trước âm mưu, thủ đoạn của địch, thực hiện lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng: “Quân và dân ta ở miền Nam lúc này hơn lúc nào hết hãy nỗ lực vượt bậc, đập tan kế hoạch phản công mới của Mỹ - ngụy, quyết giành thắng lợi thật to lớn trong Đông - Xuân 1966 -1967,… Dù lâu dài gian khổ mấy, quân và dân ta cũng quyết đánh và quyết thắng, không có gì quý hơn độc lập, tự do”1, Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch phản công trên địa bàn tỉnh Tây Ninh - Chiến dịch Tây Ninh2. Với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ”, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã chủ động tổ chức thế trận, lựa chọn phương pháp tác chiến phù hợp, đập tan cuộc hành quân quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và hệ thống hậu cần của Miền. Thắng lợi của Chiến dịch không chỉ làm thất bại ý đồ “tìm diệt”, “chụp bắt” của địch, mà để lại những kinh nghiệm có giá trị về nghệ thuật chiến dịch phản công.

Một là, phán đoán đúng ý đồ tiến công của địch, chuẩn bị chiến đấu sớm. Đặc điểm nổi bật của chiến dịch phản công là ta thực hành đánh địch khi chúng đang ở trạng thái tiến công, nên vào thời điểm ban đầu, địch có ưu thế về lựa chọn không gian, thời gian, mục tiêu, hướng tiến công, sử dụng lực lượng. Trong điều kiện đó, phán đoán đúng âm mưu, thủ đoạn, nhất là ý định tác chiến của địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở để xây dựng quyết tâm, kế hoạch phản công phù hợp và chủ động làm công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu, từng bước giành quyền chủ động tác chiến. Theo đó, giữa năm 1966, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền họp thông qua quyết tâm và kế hoạch hoạt động mùa khô năm 1966 - 1967 đã nhận định: “Quân Mỹ sẽ mở cuộc phản công lần thứ hai vào khu vực căn cứ Dương Minh Châu”3. Đồng thời dự kiến, địch sẽ đổ quân chốt chặn ở một số khu vực nhằm bịt kín biên giới Việt Nam - Campuchia, như: Mi Mốt, Cà Tum, Trảng Ba Vũng; tiến hành đổ bộ đường không đánh chiếm địa hình có lợi tạo bàn đạp, kết hợp cơ động lực lượng từ hướng Nam thọc sâu theo các trục đường lớn, sau đó phân thành nhiều hướng, mũi bao vây, chia cắt, xuyên qua từng khu vực, hòng “chụp bắt” cơ quan đầu não Miền và “tìm diệt” chủ lực của ta. Thực tế diễn biến cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ diễn ra cơ bản theo đúng phán đoán của ta. Địch triển khai các cụm pháo binh ở Suối Đá, Lộc Ninh chi viện cho Lữ đoàn 2 và Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 quân Mỹ đổ bộ xuống khu vực Chà Dơ, Trại Đèn tiến công theo Đường 22 và Đường 785 vào căn cứ Dương Minh Châu.

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá sát đúng tình hình, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đề ra phương châm kéo địch ra ngoài để tiêu diệt, đồng thời tổ chức lực lượng luồn sâu đánh phá hậu cứ, chủ động tạo thế, tạo thời cơ sẵn sàng đánh địch càn quét theo hai phương án. Phương án 1, sử dụng đơn vị nhỏ đánh vào hệ thống đồn, bốt, ấp chiến lược hỗ trợ phong trào địa phương, tạo sức uy hiếp mạnh, sẵn sàng đánh địch phản kích. Phương án 2, chủ động đánh địch khi chúng tiến công vào căn cứ, coi đây là thời cơ tốt để tập trung lực lượng diệt địch. Theo phương án tác chiến đã xác định, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lựa chọn khu vực, mục tiêu phản công chủ yếu từ Bàu Cỏ đến Kà Tum trên Đường 14; các điểm Chà Dơ, Đồng Rum, Bổ Túc; Sóc Con Trăng, Bà Chiêm, Suối Ngô. Đây là những khu vực địa hình hiểm yếu, địch dễ bộc lộ sơ hở; ta có điều kiện triển khai lực lượng, phương tiện, kết hợp giữa lực lượng tại chỗ với chủ lực đánh địch ở thế có lợi. Đồng thời, chỉ đạo các đoàn hậu cần khẩn trương tiếp nhận, dự trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật, hoàn chỉnh thế bố trí hậu cần, sẵn sàng bảo đảm cho các đơn vị cơ động đánh địch, v.v. Chính nhờ phán đoán đúng ý đồ và hướng tiến công của địch, Chiến dịch đã chủ động làm tốt công tác chuẩn bị tác chiến từ sớm, hình thành thế trận chiến dịch phản công liên hoàn, vững chắc, có khả năng chuyển hóa nhanh, giành quyền chủ động chiến dịch.

Hai là, tổ chức, sử dụng lực lượng linh hoạt, sáng tạo. Căn cứ Dương Minh Châu là khu vực rừng núi, rộng, thưa dân, lực lượng tại chỗ mỏng, chủ yếu là cơ quan của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền. Trong khi địch có ưu thế về quân số, hỏa lực và khả năng cơ động, nếu ta chỉ dựa vào lực lượng chủ lực thì sẽ khó bẻ gãy các đợt tiến công quy mô lớn của chúng. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương “mỗi cơ quan, kho, đơn vị là một pháo đài chiến đấu”; tổ chức lực lượng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của các cơ quan Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền thành lực lượng chiến đấu tại chỗ. Đây là biện pháp tổ chức, sử dụng lực lượng sáng tạo, linh hoạt khi sử dụng chính cơ quan cần bảo vệ thành một bộ phận quan trọng của thế trận phản công. Qua đó, tạo lập, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, trực tiếp tạo thế buộc địch phải phân tán lực lượng, tạm dừng ở những địa hình bất lợi; phải đối phó với ta trên một khu vực rộng lớn, giảm khả năng tập trung binh lực, hỏa lực vào mục tiêu chủ yếu.

Sau khi dự kiến chính xác hướng tiến công chủ yếu, thứ yếu của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh thế bố trí lực lượng chủ lực bảo đảm vừa có thế đánh, thế giữ và phối hợp với lực lượng tại chỗ tạo thế cài xen, rộng khắp. Theo đó, Trung đoàn 1 được điều chỉnh tập kết ở Tây Bắc thị xã Tây Ninh (Tây Đường 22); Trung đoàn 16 và Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2) tập kết ở Đông Bắc suối Đá (Nam - Bắc Đường 13); Trung đoàn 2 (thiếu) ở khu vực Long Nguyên. Với cách bố trí trên, lực lượng chủ lực có điều kiện cơ động nhanh theo nhiều phương án, hỗ trợ lực lượng tại chỗ và chủ động lựa chọn khu vực, mục tiêu tiến công; từng bước tạo lập, chuyển hóa thế trận phản công từ đánh nhỏ, đánh vừa sang đánh lớn tại những khu vực đã dự kiến. Như vậy, thế trận phản công vững chắc được tạo nên bởi thế trận của lực lượng tại chỗ kết hợp với lực lượng chủ lực và thế trận của đơn vị bạn đứng chân trên địa bàn, khiến quân địch tiến đến đâu cũng bị đánh trả quyết liệt, sức lực chúng bị hao mòn, lực lượng bị phân tán, phải căng kéo, đối phó cả trước mặt, bên sườn và phía sau, không thể phát huy được sức mạnh tiến công vốn có. Thực tiễn, Trung đoàn 16 dựa vào thế trận của lực lượng tại chỗ đã đánh thiệt hại nặng một số đơn vị thuộc Sư đoàn 1 quân Mỹ ở khu vực Đường 13, khiến địch hoang mang, khiếp sợ, đổ bộ xuống đâu là co cụm luôn tại đó, không dám sục sạo ra xa.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; nắm thời cơ thực hành phản công. Để đối phó với cuộc hành quân quy mô lớn, với lực lượng tinh nhuệ, vũ khí, trang bị hiện đại, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân; kết hợp chặt chẽ tác chiến rộng khắp của lực lượng tại chỗ với lực lượng chủ lực cơ động, coi đây là yếu tố quyết định để đánh bại cuộc tiến công của địch. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động tác chiến ở phía sau và vòng ngoài, phá thế tiến công ban đầu, buộc địch phải phân tán, căng kéo đối phó, khi địch suy yếu sẽ chớp thời cơ phản công. Thực tiễn, khi Trung đoàn 1 tiến công địch ở Trảng Lớn, Trảng Sụp, Trung đoàn 2 pháo kích Sở chỉ huy Sư đoàn 1 quân Mỹ ở Dầu Tiếng thì bộ đội địa phương và du kích các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu đồng loạt đẩy mạnh phục kích, tập kích, diệt ác ôn, phá kìm kẹp, đánh phá giao thông gây cho địch nhiều thiệt hại4. Các đơn vị phòng không, hậu cần của Miền cũng tích cực đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi. Các hoạt động tác chiến của lực lượng tại chỗ không diễn ra độc lập, rời rạc mà luôn gắn liền với hoạt động tác chiến của lực lượng chủ lực theo một kế hoạch thống nhất, chặt chẽ. Từ những trận đánh nhỏ, lẻ tiêu hao, tiêu diệt địch rộng khắp đã tạo thế, tạo thời cơ để lực lượng chủ lực cơ động thực hiện các “cú đấm mạnh” tiêu diệt lớn quân địch. Ngược lại, các đơn vị chủ lực thu hút quân địch “tìm diệt” cũng tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng tại chỗ  đánh nhỏ, lẻ đạt hiệu quả cao.

Do liên tục bị đánh đau, đánh hiểm, Lữ đoàn dù 173 và Trung đoàn thiết giáp 11 quân Mỹ bất ngờ rút khỏi Dầu Tiếng. Nhận thấy việc hai đơn vị dự bị quan trọng của địch rút quân, khả năng chi viện của lực lượng dự bị không còn, cùng với sức mạnh tiến công từ các hướng, mũi đã bị suy yếu - thời cơ tốt để tổ chức phản công tiêu diệt địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo Trung đoàn 1 nhanh chóng pháo kích vào Tà Dạt; Trung đoàn 16 tập kích vào cụm pháo binh ở Suối Đá; Trung đoàn 2 pháo kích vào Sở chỉ huy Sư đoàn 1 quân Mỹ ở Dầu Tiếng. Nhờ nhận định đúng tình hình, tận dụng thời cơ, chỉ huy kiên quyết, các đơn vị chủ lực của ta đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quan trọng, khiến địch “không kịp trở tay”, bị đánh những đòn choáng váng, thiệt hại nặng về lực lượng, phương tiện, phải vội vã chuyển quân ra Bàu Sinh, kết thúc cuộc hành quân mà chưa đạt được bất kỳ một mục tiêu nào.

Chiến dịch Tây Ninh năm 1966 là thực tiễn sinh động về nghệ thuật chiến dịch trong nắm địch, chủ động tạo lập, chuyển hóa thế trận. Thắng lợi của Chiến dịch đã để lại những kinh nghiệm quý về tổ chức chuẩn bị và thực hành tác chiến chiến dịch phản công cần được nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Thượng tá, TS. TRẦN THÁI BẰNG, Khoa Chiến dịch, Học viện Quốc phòng
____________________
       

1 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập IV: Cuộc đụng đầu lịch sử, Nxb CTQG, H. 2013, tr. 241.

2 - Chiến dịch diễn ra từ ngày 03 đến ngày 25/11/1966. Lực lượng tham gia gồm: Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 3), Trung đoàn 16 và lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh.

3 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 1, Nxb QĐND, H. 2018, tr. 412.

4 - Chỉ riêng lực lượng vũ trang địa phương huyện Dầu Tiếng trong tháng 11/1966 đó diệt 170 quân Mỹ, bắn rơi 05 máy bay lên thẳng.