Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo trong tình hình mới, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã, đang triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp xây dựng Học viện trở thành trường đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia, đạt tầm khu vực và thế giới.
Từ Phân hiệu II Đại học Bách khoa đến trường đại học trọng điểm quốc gia
Nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư quân sự phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng Quân đội, ngày 28/10/1966, Bộ Quốc phòng, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Phân hiệu II Đại học Bách khoa1 (tiền thân của Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày nay), đồng thời khai giảng khóa đầu tiên tại Hà Nội. Sự kiện này đánh dấu sự phát triển quan trọng của công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự trong nước và đặt nền móng cho việc xây dựng một cơ sở đào tạo đại học kỹ thuật đa ngành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
![]() |
| Đại hội Đại biểu Đảng bộ Học viện lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030. |
Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lớp lớp các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ của Học viện đã không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ Phân hiệu II Đại học Bách khoa với quy mô ban đầu còn khiêm tốn, Nhà trường đã từng bước lớn mạnh, trở thành Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, rồi Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày nay. Đặc biệt, ngày 31/01/2008, Chính phủ quyết định công nhận Học viện Kỹ thuật Quân sự là trường đại học trọng điểm quốc gia. Đó là dấu mốc có ý nghĩa quan trọng, khẳng định vị thế, uy tín và năng lực của Học viện trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam; đồng thời, tạo tiền đề vững chắc để Học viện tiếp tục phát triển thành trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật và nghiên cứu khoa học - công nghệ quân sự chất lượng cao, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng Quân đội và phát triển đất nước.
Đến nay, Học viện đã đào tạo hàng vạn kỹ sư quân sự, dân sự; hàng nghìn tiến sĩ, thạc sĩ có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi; nghiên cứu hàng nghìn đề tài, công trình khoa học có giá trị thực tiễn, tính ứng dụng cao. Nhiều kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm, giải pháp khoa học, công nghệ, trực tiếp phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm kỹ thuật của Quân đội2. Cùng với đó, Học viện chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, từng bước hình thành mạng lưới đối tác có uy tín thuộc hơn 30 quốc gia phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Với những đóng góp, cống hiến to lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, Học viện vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới (năm 2005) cùng nhiều phần thưởng cao quý. Đó là nền tảng vững chắc để Học viện tiếp tục phấn đấu, trở thành đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia, thiết thực phục vụ yêu cầu hiện đại hóa Quân đội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Không ngừng phát triển nội lực, nâng tầm vị thế, xây dựng Học viện theo hướng đại học nghiên cứu
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Học viện xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, phát huy nội lực, tạo chuyển biến toàn diện trên các mặt công tác; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phát huy vai trò hạt nhân của Đảng bộ trong dẫn dắt Học viện phát triển theo hướng đại học nghiên cứu. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, quyết định việc cụ thể hóa mục tiêu, định hướng phát triển thành những bước đi, giải pháp phù hợp, khả thi và hiệu quả. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trọng tâm là chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo và hội nhập quốc tế, Học viện tiếp tục cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch; xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình, lĩnh vực ưu tiên, khâu đột phá và nguồn lực cần tập trung bảo đảm phát triển có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đặc thù của một cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ kỹ thuật quân sự.
![]() |
| Thủ trưởng Ban Giám đốc Học viện tặng hoa chức mừng các đồng chí Giáo sư, Phó Giáo sư nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. |
Để đạt hiệu quả cao, Học viện đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng chuyển mạnh từ tư duy “quản lý, điều hành” sang “kiến tạo, định hướng và dẫn dắt phát triển”; phân định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì; đề cao vai trò nêu gương của người đứng đầu; phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, khuyến khích cán bộ, đảng viên và quần chúng phát huy tinh thần “7 dám”. Trong đó, coi trọng tạo môi trường để cán bộ, giảng viên phát huy năng lực chuyên môn, tư duy sáng tạo, dám nghiên cứu, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển chung của Học viện; đồng thời, duy trì chặt chẽ chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá tiến độ và chất lượng thực hiện, kịp thời biểu dương, nhân rộng mô hình, cách làm hiệu quả.
Cùng với đó, Học viện tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh thực hiện “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa”, phương châm “5 vững” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới; chú trọng chuyển mạnh từ nhận thức sang thực hành, gắn việc học tập, rèn luyện với thực hiện chức trách, nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả công tác của từng cán bộ, đảng viên. Phấn đấu hằng năm có 100% cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên; trên 85% cấp ủy, tổ chức đảng, trên 95% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong đó có 20% tổ chức đảng, đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện mục tiêu phát triển Học viện trong tình hình mới.
Hai là, xây dựng đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành đáp ứng yêu cầu phát triển Học viện. Con người là nguồn lực nội sinh, nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, Học viện tiếp tục lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu, chuyên gia có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy khoa học hiện đại, năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và khả năng làm chủ công nghệ mới. Nâng cao nhận thức về vị trí, sứ mệnh của Học viện đối với xây dựng Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng; khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, ý thức trách nhiệm và niềm say mê sáng tạo khoa học, công nghệ.
Chú trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo môi trường phát triển, từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư gắn với xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu xuất sắc ở những lĩnh vực ưu tiên của công nghiệp quốc phòng. Triển khai hiệu quả Đề án “Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” và Đề án “Đào tạo kỹ sư quân sự, thạc sĩ tài năng, tiến sĩ chất lượng cao”; chủ động phát hiện, tuyển chọn, đào tạo cán bộ trẻ có năng lực nổi trội, tạo nguồn kế cận cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn. Nghiên cứu, đề xuất cơ chế đặc thù thu hút, trọng dụng chuyên gia đầu ngành, tạo điều kiện để nhân tài phát huy năng lực, cống hiến lâu dài.
Gắn đào tạo ở nước ngoài với yêu cầu xây dựng năng lực nghiên cứu trong nước, chuyển giao tri thức, phát triển nhóm nghiên cứu, lực lượng chuyên gia có khả năng dẫn dắt các hướng khoa học, công nghệ ưu tiên. Phấn đấu đến năm 2030, trên 95% giảng viên, cán bộ nghiên cứu cơ hữu có trình độ thạc sĩ trở lên; 55 - 60% có trình độ tiến sĩ, tiến sĩ khoa học; trên 15% đạt chức danh giáo sư, phó giáo sư; trên 1,5% đạt danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú. Hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành có uy tín trong khu vực và quốc tế, đủ năng lực dẫn dắt các hướng nghiên cứu mũi nhọn, nâng cao chất lượng đào tạo và vị thế khoa học, công nghệ của Học viện.
![]() |
| Các đại biểu tham quan sản phẩm tại Hội nghị Tuổi trẻ sáng tạo khoa học của Học viện. |
Ba là, đột phá nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội và đất nước. Học viện tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII; Nghị quyết số 290-NQ/QUTW, ngày 07/01/2026 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội. Theo đó, Học viện tiếp tục bám sát phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, tập trung rà soát, cập nhật, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, thiết thực, liên thông và hội nhập quốc tế; gắn với yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại và sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Chú trọng mở rộng đào tạo chất lượng cao, đào tạo tài năng; phát triển các ngành, chuyên ngành thuộc công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, như: trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, 5G, công nghệ nano, học máy và dữ liệu lớn, hệ thống tự hành, công nghệ địa không gian, vi mạch bán dẫn, tự động hóa chỉ huy, thiết kế điện tử và hệ thống nhúng, v.v. Từng bước chuyển từ đào tạo theo chức danh sang đào tạo “kỹ sư quân sự - nhà nghiên cứu - chuyên gia công nghệ”, có năng lực làm chủ công nghệ và thích ứng với yêu cầu mới. Hoàn thiện mô hình “học viên, sinh viên là trung tâm, nhà trường là nền tảng, giảng viên là động lực”; tổ chức các chương trình đào tạo linh hoạt, cá thể hóa đối với học viên tài năng, có thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế, tạo điều kiện để phát huy tối đa năng lực, sở trường và định hướng phát triển chuyên sâu của từng đối tượng.
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát triển tư duy độc lập, năng lực nghiên cứu, sáng tạo và giải quyết vấn đề; kết hợp chặt chẽ lý thuyết với thực hành, thí nghiệm, nghiên cứu, thử nghiệm và giải quyết các bài toán kỹ thuật thực tiễn; đẩy mạnh ứng dụng học liệu, phương pháp sư phạm thông minh, gắn đào tạo với huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hiện đại hóa Quân đội và phát triển công nghiệp quốc phòng. Coi trọng bảo đảm chất lượng nội bộ; thực hiện nghiêm tự đánh giá, kiểm định chương trình và cơ sở đào tạo; đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng thực chất, khách quan, đánh giá đúng năng lực, chống bệnh thành tích và tiêu cực.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng xây dựng Học viện theo mô hình đại học nghiên cứu. Trước mắt, Học viện chuyển mạnh từ “nghiên cứu theo nhiệm vụ” sang hình thành năng lực nghiên cứu có tính chủ động, dài hạn, hướng tới những công nghệ Quân đội cần trong tương lai; lấy yêu cầu thực tiễn làm điểm xuất phát, giá trị và khả năng ứng dụng của sản phẩm làm thước đo hiệu quả nghiên cứu. Tích cực nghiên cứu nắm bắt những bài toán mới, khó từ thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật và phát triển công nghiệp quốc phòng để xác định nhiệm vụ, đặt hàng nghiên cứu. Chủ động đề xuất, tổ chức các nhiệm vụ cấp quốc gia, cấp Bộ Quốc phòng và nhiệm vụ quy mô lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, phấn đấu hằng năm mở mới 3 - 4 đề tài cấp quốc gia, 3 - 4 đề tài hợp tác quốc tế; có thêm 3 - 4 sản phẩm mang thương hiệu Học viện; trên 90% nhiệm vụ khoa học và công nghệ có kết quả được ứng dụng vào thực tiễn.
Gắn nghiên cứu với đào tạo, đưa hoạt động nghiên cứu trở thành một bộ phận hữu cơ của quá trình đào tạo, tạo điều kiện để học viên, sinh viên tham gia đề tài, nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trực tiếp thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm, qua đó phát triển tư duy khoa học, kỹ năng nghiên cứu, năng lực sáng tạo và tiếp cận thực tiễn công nghệ. Đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng lấy kết quả đầu ra làm trọng tâm; tạo hành lang thuận lợi cho nghiên cứu, chấp nhận rủi ro hợp lý, khuyến khích các ý tưởng mới, hướng nghiên cứu mới có tiềm năng. Đồng thời, hiện đại hóa phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, hạ tầng dữ liệu theo hướng dùng chung, kết nối, chia sẻ trong phạm vi phù hợp; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị, nghiên cứu, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu, phòng thí nghiệm số, mô hình mô phỏng và nền tảng hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm. Qua đó, hình thành môi trường nghiên cứu liên thông từ phát hiện vấn đề, hình thành ý tưởng, nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm đến hoàn thiện và ứng dụng, rút ngắn thời gian đưa kết quả khoa học, công nghệ vào thực tiễn.
Năm là, mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và tạo môi trường thuận lợi để Học viện phát triển nhanh, bền vững. Quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW, ngày 26/02/2024 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Học viện đẩy mạnh đổi mới tư duy, chuyển từ hợp tác theo từng chương trình, nhiệm vụ sang xây dựng quan hệ đối tác ổn định, lâu dài, có chiều sâu; ưu tiên các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ uy tín, nhất là đối tác sở hữu công nghệ nguồn, công nghệ nền, công nghệ lõi phục vụ hiện đại hóa Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng. Hoàn thiện cơ chế quản lý; chủ động khai thác các nguồn lực quốc tế; tạo điều kiện để cán bộ, giảng viên, nhà khoa học tham gia nghiên cứu, đào tạo ở nước ngoài. Chủ động tham gia các diễn đàn, mạng lưới học thuật quốc tế và phát huy thương hiệu Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, mở rộng hợp tác đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản trị đại học tiên tiến, góp phần đưa Học viện thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về khoa học kỹ thuật và công nghệ; đến năm 2045 thuộc nhóm 500 đại học tiên tiến, hàng đầu thế giới.
Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, phát triển đất nước, Học viện Kỹ thuật Quân sự tiếp tục phát huy truyền thống “Đoàn kết, bản lĩnh, trí tuệ, tỏa sáng”, quyết tâm đổi mới, nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ, khẳng định vị thế của trường đại học trọng điểm quốc gia, trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hàng đầu của Quân đội và đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân.
Trung tướng TRẦN VĂN THƯỞNG, Chính ủy Học viện
______________________
1 - Theo Quyết định số 146/CP, ngày 08/8/1966 của Hội đồng Chính phủ.
2 - Tiêu biểu như: tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp TL-60MK-01; hệ thống pháo phản lực phóng loạt WM-18VN; tổ hợp pháo tự hành trên cơ sở tích hợp pháo 130mm-M46 lên xe Kraz 255B theo kiểu Jupiter I; súng bắn hai môi trường 5,56mm SHMT-M1; súng ngắn và đạn 7,62×25mm xuyên giáp, v.v.







