Trong bối cảnh thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sự cố môi trường và các nguy cơ an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng phức tạp, khó dự báo, yêu cầu bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội đặt ra ngày càng cấp thiết. Trước yêu cầu đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đảng, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phòng thủ dân sự, thể hiện rõ bước phát triển quan trọng về tư duy, nhận thức và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đặc thù này, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Diễn tập chung về phòng thủ dân sự giữa quân đội ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia năm 2026. Nguồn: qdnd.vn |
Từ yêu cầu thực tiễn đến bước chuyển tư duy trong phòng thủ dân sự
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai, diễn biến ngày càng phức tạp, gia tăng về tần suất, quy mô và mức độ thiệt hại.
Cùng với đó, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa và mở rộng các hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên trên các vùng, miền cũng làm gia tăng nguy cơ xảy ra các sự cố cháy nổ, sập đổ công trình, sự cố hóa chất độc xạ, tràn dầu, v.v. Do vậy, công tác ứng phó với sự cố, thảm họa, thiên tai luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.
Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra, để kịp thời ứng phó với các tình huống sự cố, tai nạn trên không, trên biển và tham gia các công ước quốc tế1, Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn trên không và trên biển được thành lập2. Đây là dấu mốc quan trọng, tạo cơ sở cho việc thống nhất chỉ đạo, điều hành công tác tìm kiếm, cứu nạn trên phạm vi cả nước. Qua các giai đoạn, cơ chế này tiếp tục được kiện toàn, mở rộng phạm vi hoạt động, từng bước hình thành năng lực phối hợp liên ngành trong ứng phó sự cố, thiên tai, thảm họa và tìm kiếm, cứu nạn. Nhờ đó, góp phần tích cực trong bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân; đồng thời, tích lũy nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức lực lượng, huy động nguồn lực, chỉ huy hiện trường và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.
Thực hiện chức năng “đội quân công tác”, những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tích cực, chủ động, phát huy vai trò là lực lượng chủ lực, nòng cốt trong ứng phó các sự cố, thảm họa, thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn. Với tổ chức lực lượng rộng khắp, khả năng cơ động cao, tinh thần dũng cảm, “vì Nhân dân phục vụ”, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không quản hiểm nguy, luôn xung kích đi đầu, có mặt sớm nhất, kịp thời nhất ở những nơi khó khăn, gian khổ để cứu người, sơ tán Nhân dân, bảo đảm giao thông, thông tin liên lạc, vận chuyển hàng hóa, khắc phục hậu quả,... giúp cấp ủy, chính quyền và Nhân dân các địa phương nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống3, lan tỏa hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, khẳng định vai trò, trách nhiệm của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong điều kiện mới nếu chỉ tập trung vào cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả khi sự cố đã xảy ra thì chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu bảo vệ Nhân dân. Bởi, các nguy cơ ngày càng đan xen, tác động dây chuyền, chuyển hóa từ sự cố cục bộ thành những tình huống phức tạp, gây hậu quả trên diện rộng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, sản xuất, đời sống, kinh tế, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Thực tiễn đó đòi hỏi phải chuyển mạnh từ thế bị động ứng cứu sang chủ động phòng ngừa, từ xử lý hậu quả sang quản trị rủi ro ngay từ trước khi sự cố xảy ra. Bảo vệ Nhân dân không chỉ là kịp thời ứng cứu khi nguy cơ trở thành sự cố, mà phải chủ động nhận diện, đánh giá, kiểm soát nguy cơ từ sớm, từ xa; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật chất, các phương án; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo; tổ chức huấn luyện, diễn tập; đồng thời, bảo đảm khả năng phục hồi nhanh sau khủng hoảng.
Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đã có bước phát triển mới về tư duy, chuyển từ “ứng phó sự cố” sang “chủ động phòng thủ dân sự”. Thực tiễn cho thấy, nếu tìm kiếm, cứu nạn chủ yếu hướng vào cứu người, cứu tài sản và khắc phục hậu quả sự cố đã xảy ra, thì phòng thủ dân sự đặt những nhiệm vụ đó trong một chỉnh thể rộng hơn, bao gồm: phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả; trong đó, phòng ngừa và chuẩn bị được đặt lên trước, ứng phó phải kịp thời, khắc phục phải hiệu quả và phục hồi phải nhanh chóng.
Sự phát triển này không đơn thuần là mở rộng phạm vi nhiệm vụ mà sâu xa hơn là đổi mới phương thức bảo vệ Nhân dân, quản trị rủi ro và tăng cường khả năng, sức chống chịu của quốc gia. Nói cách khác, “phòng thủ dân sự” không phải là một nhiệm vụ mới đặt cạnh cứu hộ, cứu nạn, mà là một phương thức tổ chức sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động phòng ngừa, ứng phó và phục hồi trước các nguy cơ phi truyền thống.
![]() |
| Thủ trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn kiểm tra khu vực đập thủy điện Bắc Khê, tỉnh Lạng Sơn, tháng 10/2025. |
Hoàn thiện thể chế, tổ chức lực lượng, chủ động phòng thủ dân sự
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức lực lượng phòng thủ dân sự, tạo cơ sở để chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa và phòng thủ. Đặc biệt, Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2023, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 và Văn bản hợp nhất 132/2026/VBHN-LQ-VPQH Luật Phòng thủ dân sự, ngày 18/9/2026 là dấu mốc quan trọng của quá trình này. Theo đó, phòng thủ dân sự được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa phòng ngừa với ứng phó và khắc phục hậu quả; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, địa phương, lực lượng vũ trang và toàn dân. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý để chuyển mạnh từ cách tiếp cận chủ yếu xử lý hậu quả sang quản lý nguy cơ, chuẩn bị từ trước và nâng cao năng lực ứng phó của cả hệ thống chính trị và toàn dân.
Để đổi mới cơ chế chỉ đạo ở cấp quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1585/QĐ-TTg, ngày 23/7/2025 tổ chức lại Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai và Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. Đồng thời, ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo, xác định rõ chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các thành viên và mối quan hệ công tác với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các bộ, ngành, địa phương; trong đó, Bộ Quốc phòng là Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo. Đây là bước kiện toàn quan trọng nhằm tăng cường sự thống nhất trong tham mưu, chỉ đạo, điều hành và huy động nguồn lực trong xử lý các tình huống khẩn cấp.
Một trong những bước phát triển cốt lõi về tư duy là chuyển từ cách tiếp cận theo từng loại nguy cơ, lĩnh vực riêng lẻ sang tiếp cận tổng thể, liên ngành, liên vùng; từ phân tán nguồn lực sang tăng cường điều phối thống nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp; từ chú trọng xử lý hậu quả sang quản lý, kiểm soát toàn bộ chu trình phòng thủ dân sự. Sự chuyển đổi đó đặt ra yêu cầu cao đối với cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phải bảo đảm thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; phân công, phân cấp rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, linh hoạt của từng cấp, từng ngành, địa phương, đồng thời bảo đảm khả năng kết nối, phối hợp, huy động nhanh chóng, đồng bộ, hiệu quả các nguồn lực khi tình huống xảy ra.
Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương đã tập trung xây dựng, kiện toàn lực lượng phòng thủ dân sự, từng bước hình thành thế trận rộng khắp, gắn với địa bàn, cơ sở, cộng đồng dân cư; nâng cao khả năng tham mưu, dự báo, cảnh báo, chỉ huy, phối hợp và xử lý các tình huống phòng thủ dân sự. Trong đó, lực lượng nòng cốt giữ vai trò quan trọng trong tổ chức, hướng dẫn và trực tiếp xử lý các tình huống; gắn kết chặt chẽ với việc phát huy khả năng tự phòng, chống, bảo vệ, ứng phó và tự khắc phục của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, gia đình và cộng đồng dân cư. Đồng thời, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội, nhất là trong những tình huống cần huy động lực lượng lớn, cơ động nhanh, hoạt động trong điều kiện phức tạp, nguy hiểm để trực tiếp tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, sự cố, góp phần bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”.
![]() |
| Các lực lượng phối hợp triển khai nhiệm vụ trong phần thực binh của diễn tập phòng thủ dân sự năm 2026 tại Đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Nguồn: cathai.haiphong.gov.vn |
Phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nền phòng thủ dân sự chủ động, hiện đại
Trong giai đoạn hiện nay, chủ động phòng thủ dân sự là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị và toàn dân, bởi không một cơ quan, địa phương hay lực lượng riêng lẻ nào có đủ khả năng ứng phó với mọi tình huống có tính chất liên ngành, liên vùng và diễn biến nhanh, phức tạp. Vì vậy, xây dựng nền phòng thủ dân sự vững chắc phải gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, củng cố “thế trận lòng dân”, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các lực lượng liên quan; bảo đảm phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ phương án xử lý. Chú trọng xây dựng các phương án phòng thủ dân sự sát thực tế địa bàn, loại hình nguy cơ và đặc điểm dân cư; thường xuyên rà soát, bổ sung, tổ chức huấn luyện, diễn tập để nâng cao khả năng xử lý các tình huống có thể xảy ra.
Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương chú trọng nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo và chuẩn bị từ sớm. Thực hiện tốt phương châm chủ động phòng ngừa để giảm thiểu thiệt hại, hạn chế tình trạng bị động, bất ngờ, nhất là trước những tình huống diễn biến nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng. Trên cơ sở quán triệt, triển khai thực hiện Quyết định số 2693/QĐ-TTg, ngày 11/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Kế hoạch phòng thủ dân sự quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, các bộ, ngành, địa phương tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, năng lực chỉ đạo, chỉ huy, ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng phòng thủ dân sự, cộng đồng và toàn dân. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào lĩnh vực phòng thủ dân sự. Trong điều kiện dữ liệu ngày càng có vai trò quyết định đối với việc dự báo và chỉ huy, cần tăng cường thu thập, tích hợp, chia sẻ dữ liệu; ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ phù hợp trong giám sát, dự báo, cảnh báo nguy cơ, hỗ trợ ra quyết định và điều phối lực lượng. Năng lực phòng thủ dân sự hiện đại không chỉ được đo đếm bằng số lượng phương tiện cứu hộ, cứu nạn, mà còn bằng khả năng phát hiện sớm nguy cơ, truyền đạt cảnh báo kịp thời, ra quyết định chính xác, huy động lực lượng nhanh và phục hồi hiệu quả.
Bên cạnh đó, tập trung nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng ngừa, ứng phó cho toàn dân. Mỗi người dân cần chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ mình, gia đình và cộng đồng; mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần xây dựng phương án bảo đảm an toàn, duy trì hoạt động thiết yếu và khôi phục nhanh sản xuất sau khi xảy ra tình huống.
Kinh nghiệm thực tiễn trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn những năm qua cho thấy, nơi nào có sự phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân thì nơi đó khả năng ứng phó và khắc phục hậu quả được nâng lên rõ rệt. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục xây dựng, củng cố, kiện toàn lực lượng, nâng cao khả năng cơ động, huấn luyện sát thực tiễn, làm chủ phương tiện, trang bị và công nghệ mới; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với các lực lượng và Nhân dân trong xử lý các tình huống khẩn cấp.
Như vậy, từ ứng phó sự cố đến chủ động phòng thủ dân sự là quá trình phát triển có tính kế thừa cả về nhận thức, thể chế và tổ chức thực hiện. Trong phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, tìm kiếm, cứu nạn vẫn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhưng được đặt trong tư duy rộng hơn, chủ động hơn và toàn diện hơn. Mục tiêu nhất quán là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của Nhân dân và lợi ích của Nhà nước; phương thức thực hiện chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang quản lý nguy cơ, từ bị động ứng cứu sang chủ động phòng ngừa, từ xử lý từng tình huống sang xây dựng năng lực chống chịu của quốc gia.
Trong bối cảnh các nguy cơ truyền thống và phi truyền thống tiếp tục diễn biến đan xen, phức tạp, việc xây dựng nền phòng thủ dân sự chủ động, hiện đại, hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nâng cao vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, củng cố khả năng tự phòng, chống, ứng phó của cộng đồng chính là phương thức căn cơ, cốt lõi để củng cố thế và lực của đất nước. Qua đó, chủ động xử lý hiệu quả các tình huống, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Thiếu tướng PHẠM HẢI CHÂU, Phó Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia
1 - Như: Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 (SOLAS 74), Công ước quốc tế về tìm kiếm và cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR 79), Công ước hàng không dân dụng quốc tế, v.v.
2 - Theo Quyết định số 780/TTg, ngày 23/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ.
3 - Thực hiện chức năng Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia, Cục Cứu hộ - Cứu nạn đã tham mưu điều động hơn 2,65 triệu lượt người, 81.727 lượt phương tiện; chỉ đạo ứng phó hiệu quả 19.486 sự cố, thiên tai, cứu được 43.365 người, 2.876 phương tiện, trong đó có 345 vụ có yếu tố nước ngoài, cứu được 1.607 người và 95 phương tiện; kêu gọi, thông báo cho gần 24 triệu người, 6.652.000 phương tiện nắm được thông tin của bão, áp thấp nhiệt đới, v.v.







