Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh Quân đội không chỉ được đo bằng quy mô lực lượng, chất lượng vũ khí, trang bị hay trình độ tác chiến, mà còn được quyết định bởi bản lĩnh chính trị, trí tuệ, ý chí chiến đấu và tinh thần cống hiến của con người.
Vũ khí hiện đại chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được vận hành bởi những con người có lý tưởng, làm chủ khoa học - công nghệ, đoàn kết, kỷ luật và sẵn sàng hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Khơi dậy động lực phụng sự trong mỗi cán bộ, chiến sĩ phải trở thành một nội dung trọng yếu của xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
![]() |
| Các lực lượng luyện tập phục vụ Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2025. Ảnh: TUẤN HUY |
Thách thức mới đòi hỏi sức mạnh từ con người
Tình hình thế giới đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực quốc phòng và chất lượng nguồn nhân lực quân sự. Cạnh tranh chiến lược, xung đột vũ trang, chiến tranh công nghệ cao, tác chiến điện tử, không gian mạng, trí tuệ nhân tạo và hệ thống vũ khí không người lái đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức, chỉ huy và tiến hành chiến tranh. Trong môi trường đó, lợi thế không chỉ thuộc về bên sở hữu nhiều vũ khí hơn, mà còn thuộc về bên phát hiện tình huống sớm hơn, ra quyết định chính xác hơn, thích ứng nhanh hơn và tổ chức thực hiện hiệu quả hơn.
Số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) cho thấy, chi tiêu quân sự toàn cầu năm 2025 đạt khoảng 2.887 tỉ USD, tăng 2,9% theo giá trị thực so với năm 2024 và là năm tăng thứ 11 liên tiếp. Con số ấy phản ánh môi trường an ninh ngày càng phức tạp, đồng thời cho thấy cạnh tranh nâng cao tiềm lực quân sự đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.
Tuy nhiên, đầu tư nguồn lực quốc phòng chỉ tạo ra ưu thế bền vững khi được chuyển hóa thành năng lực thực tế. Một đơn vị có trang bị tốt nhưng cán bộ thiếu trách nhiệm, ngại đổi mới, huấn luyện hình thức hoặc chậm xử trí tình huống sẽ khó phát huy hết sức mạnh. Ngược lại, con người có bản lĩnh, tinh thần chủ động và năng lực phối hợp có thể nâng cao đáng kể hiệu quả của tổ chức, vũ khí và phương tiện hiện có.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này gắn trực tiếp với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ biển, đảo, vùng trời, lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, xây dựng Quân đội mạnh phải đi liền với xây dựng con người có phẩm chất, năng lực và động lực cống hiến tương xứng với nhiệm vụ. Mục tiêu xây dựng đội ngũ không chỉ chấp hành nghiêm mệnh lệnh, kỷ luật mà còn biết chủ động phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, làm chủ công nghệ, dám nhận trách nhiệm trong phạm vi chức trách và kiên trì hoàn thành nhiệm vụ vì lợi ích chung.
Từ truyền thống phụng sự đến cống hiến cho Tổ quốc
Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định sức mạnh bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, bản chất cách mạng, mối quan hệ máu thịt với nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý chí vượt khó khăn. Những giá trị ấy cần tiếp tục được chuyển hóa thành năng lực thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mới. Lòng trung thành và tinh thần hy sinh phải đi cùng tri thức, kỷ luật, năng lực tổ chức, tư duy đổi mới và khả năng làm chủ khoa học - công nghệ trong tình hình mới.
Thực tiễn quốc tế cho thấy không thể tạo động lực lâu dài chỉ bằng mệnh lệnh, khen thưởng hoặc tăng chi tiêu. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về hiệu quả và thịnh vượng của lực lượng lao động khu vực công năm 2026 trên cơ sở nghiên cứu lực lượng khoảng 400 triệu người trên toàn cầu, nhấn mạnh 3 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả công việc, gồm: Chính sách tiền lương và bố trí nhân lực; phương thức quản trị, tạo động lực và phát triển năng lực; công nghệ số. Việt Nam có thể tham khảo khi thiết kế cơ chế quản trị nhân lực quân sự, nhưng cần được điều chỉnh theo đặc thù kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu và bảo mật của Quân đội. Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy cần xem xét xử lý đồng bộ 5 mối quan hệ: Giữa lý tưởng và lợi ích chính đáng; giữa kỷ luật và sáng tạo; giữa đánh giá thành tích và chất lượng thực chất; giữa trao quyền và kiểm soát quyền lực; giữa yêu cầu nhiệm vụ và chính sách đối với quân nhân, gia đình quân nhân.
Trước hết, phải làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của nhiệm vụ mình đảm nhận. Động lực bền vững hình thành khi cá nhân nhận thức được công việc đang góp phần bảo vệ ai, bảo vệ điều gì và tạo ra kết quả gì cho đơn vị, đất nước. Giáo dục chính trị, tư tưởng vì vậy cần gắn với tình huống thực tế, nhiệm vụ cụ thể và trách nhiệm cá nhân; tránh tình trạng học tập nghị quyết chỉ dừng ở ghi nhớ nội dung, báo cáo đủ thủ tục nhưng chưa chuyển thành thay đổi trong hành động.
Tiếp đó, cần tạo môi trường để người có năng lực được giao việc phù hợp, người có sáng kiến có cơ hội thử nghiệm và người hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc được ghi nhận công bằng. Không thể yêu cầu cán bộ sáng tạo nếu mọi cách làm mới đều bị nhìn nhận như rủi ro; cũng không thể khuyến khích cống hiến nếu người làm nhiều, làm khó và tạo ra kết quả tốt không khác biệt đáng kể với người chỉ hoàn thành công việc ở mức tối thiểu. Đây không phải là nới lỏng kỷ luật hay hạ thấp tiêu chuẩn chính trị, mà là nâng chất lượng kỷ luật từ chấp hành hình thức lên thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm, hiệu quả và liêm chính; từ quản lý bằng kiểm tra thủ tục đơn thuần sang quản trị đồng thời bằng mục tiêu, kết quả, chuẩn mực và trách nhiệm giải trình.
Để chủ trương thành động lực và kết quả cụ thể
Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tổng thể yêu cầu phát triển đất nước và xử lý các thách thức an ninh mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đối với Quân đội, đây là cơ sở để gắn xây dựng con người với đổi mới phương thức huấn luyện, chỉ huy, quản lý, nghiên cứu và phát triển công nghiệp quốc phòng. Thực tiễn chỉ đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2024, Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động vì lợi ích chung; đồng thời chú trọng thu hút, trọng dụng nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và siết chặt kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Đây là định hướng cần được cụ thể hóa sâu hơn trong cơ chế quản lý, sử dụng và phát triển nhân lực toàn quân.
Theo đó, cần tập trung vào 5 giải pháp thiết thực, gồm:
Một là, đổi mới đánh giá cán bộ, chiến sĩ theo kết quả nhiệm vụ và giá trị đóng góp thực chất. Mỗi chức danh, vị trí công tác cần có tiêu chí rõ ràng, phù hợp đặc thù nhiệm vụ; kết hợp mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng chuyên môn, kết quả huấn luyện, khả năng làm chủ trang bị, tinh thần phối hợp, chấp hành kỷ luật và trách nhiệm với tập thể. Với đơn vị sẵn sàng chiến đấu, tiêu chí trọng tâm phải là khả năng sẵn sàng chiến đấu, chất lượng xử trí tình huống và mức độ thành thạo. Với cơ sở nghiên cứu, kỹ thuật, tiêu chí cần phản ánh chất lượng giải pháp, độ tin cậy, khả năng ứng dụng và hiệu quả khai thác. Không áp dụng một công thức cứng cho mọi đơn vị; càng không biến đánh giá thành tích thành cuộc chạy đua chỉ tiêu, giấy khen hay báo cáo đẹp.
Hai là, tạo cơ chế để sáng kiến được thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng có kiểm soát. Những đề xuất đổi mới trong huấn luyện, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, chuyển đổi số hoặc cải tiến quy trình cần được tiếp nhận theo quy trình minh bạch: Xác định vấn đề; đánh giá tính hợp pháp, an toàn và rủi ro; giao thẩm quyền, nguồn lực; thử nghiệm trong phạm vi phù hợp; đo lường kết quả; quyết định điều chỉnh, dừng hoặc nhân rộng. Cần phân biệt rõ sai sót chuyên môn thiện chí trong quá trình thử nghiệm đúng thẩm quyền với hành vi cố ý vi phạm, che giấu khuyết điểm, vụ lợi hoặc thiếu trách nhiệm nghiêm trọng. Bảo vệ người đổi mới vì lợi ích chung không đồng nghĩa miễn trừ trách nhiệm; đó là bảo đảm cán bộ không bị quy kết chỉ vì một thử nghiệm có kiểm soát chưa đạt kết quả như dự kiến.
Ba là, phát triển nhân tài và năng lực số gắn với yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. Cần xây dựng bản đồ năng lực theo từng lĩnh vực, xác định những vị trí cần chuyên gia sâu về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, tự động hóa, điện tử, vật liệu mới, công nghệ mô phỏng và các lĩnh vực kỹ thuật quân sự thiết yếu. Việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng phải dựa trên năng lực thực tế, phẩm chất chính trị, đạo đức và nhu cầu nhiệm vụ; mở rộng cơ hội học tập, nghiên cứu, luân chuyển và phát triển nghề nghiệp. Đề án thu hút, trọng dụng nhân tài của Quân đội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được triển khai bằng các vị trí công việc, tiêu chuẩn tuyển chọn, cơ chế sử dụng và kết quả đầu ra cụ thể, thay vì chỉ dừng ở danh mục chính sách.
Bốn là, bảo đảm chính sách và điều kiện sống để quân nhân yên tâm cống hiến. Động viên tinh thần phải đi cùng quan tâm thiết thực đến tiền lương, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, điều kiện công tác, học tập của con em và hậu phương Quân đội, nhất là đối với lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và những địa bàn gian khó. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 11/2024 là một bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về xây dựng đội ngũ sĩ quan. Vấn đề tiếp theo là tổ chức thực hiện đồng bộ, công khai, kịp thời, đồng thời thường xuyên đánh giá chính sách có thực sự giải quyết đúng những khó khăn và nhu cầu của từng nhóm quân nhân hay không.
Năm là, đề cao trách nhiệm nêu gương của người chỉ huy và xây dựng môi trường đơn vị công bằng, đoàn kết. Người chỉ huy phải là người nhận trách nhiệm trước tiên, phân công đúng người, đúng việc, lắng nghe phản biện, bảo vệ cấp dưới hành động đúng và xử lý nghiêm biểu hiện bè phái, né tránh, đùn đẩy hoặc trù dập người có sáng kiến. Đánh giá người đứng đầu không chỉ căn cứ vào thành tích của đơn vị mà cần xem xét chất lượng xây dựng đội ngũ, khả năng phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, mức độ phát huy sáng kiến, sự tiến bộ của cấp dưới và tính liêm chính trong sử dụng quyền lực.
Khơi dậy động lực cống hiến không phải là một phong trào ngắn hạn, càng không chỉ dựa vào lời kêu gọi. Đó phải là quá trình xây dựng văn hóa phụng sự, trong đó lý tưởng tạo phương hướng, năng lực tạo khả năng hành động, kỷ luật bảo đảm chuẩn mực, chính sách tạo sự yên tâm và cơ chế công bằng giúp cống hiến được ghi nhận. Khi những yếu tố ấy vận hành thống nhất, tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” mới chuyển hóa thành kết quả cụ thể. Đó là con đường bền vững để biến truyền thống anh hùng thành năng lực bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới, giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ cuộc sống của nhân dân và đóng góp xứng đáng vào khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Đồng chí BÙI CHÍ KIÊN, Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Nguồn: qdnd.vn





