Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

Phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - nền tảng xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội hiện nay

9/18/2026 3:03:43 PM

Phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh những giá trị tư tưởng, đạo đức và phương pháp công tác cách mạng sâu sắc; được thể hiện sinh động qua sự gần gũi, tôn trọng, lắng nghe, học hỏi và hết lòng phục vụ Nhân dân. Phong cách ấy vừa bảo đảm tính nguyên tắc, khoa học, dân chủ, vừa thấm đẫm tính nhân văn, có sức cảm hóa, thuyết phục và lan tỏa sâu rộng. Đây là di sản quý báu, là cơ sở quan trọng để xây dựng phong cách làm việc cho đội ngũ cán bộ Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và phương pháp công tác; thể hiện sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”. Đó là hệ thống các nguyên tắc, phương pháp và lề lối làm việc của người cán bộ cách mạng dựa trên nền tảng Nhân dân, với những đặc trưng nổi bật sau.

Một là, tôn trọng, tin tưởng và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Đây là đặc trưng nổi bật trong phong cách làm việc quần chúng Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc bản chất nhân văn, dân chủ và cách mạng. Là một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng và nhất quán khẳng định vai trò chủ thể, sức mạnh vô địch của Nhân dân. Người khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”1, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,...”2. Theo đó, Nhân dân là gốc của nước, của cách mạng; là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, là mục tiêu phục vụ cao nhất của cách mạng. Nhân dân chính là lực lượng vĩ đại nhất, có sức mạnh vô địch, quyết định sự thành bại của cách mạng. Đồng thời, là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển. Vì vậy, Nhân dân là quý giá nhất, quan trọng nhất đối với đất nước.

Từ việc nhận thức, đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự tôn trọng, trân quý Nhân dân. Theo Người, tôn trọng Nhân dân không phải là khẩu hiệu hình thức, không phải ở chào hỏi, kính thưa lễ phép mà là tôn trọng quyền làm chủ của dân, tôn trọng phẩm giá, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của dân; tin vào trí tuệ, sức mạnh và khả năng sáng tạo của Nhân dân, đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý xã hội. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”3, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”4.

Không chỉ đặt Nhân dân vào vị trí trung tâm của quyền lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm phát huy vai trò, sức mạnh của Nhân dân. Người nhấn mạnh: “... có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”5. Vì thế, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn khơi dậy, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ảnh minh họa. Nguồn: tcnnld.vn

Hai là, lấy lợi ích của Nhân dân là mục tiêu phục vụ và luôn quan tâm chăm lo đời sống Nhân dân. Xác định Nhân dân là gốc, là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy lợi ích của Nhân dân là mục tiêu phục vụ cao nhất và thường xuyên quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống của Nhân dân. Người khẳng định, ham muốn lớn nhất của mình là làm cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, Nhân dân được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Cả cuộc đời Người đã phấn đấu không mệt mỏi, làm tất cả để thực hiện mong muốn đó: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân”6.

Sau khi nước nhà giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết nhằm đáp ứng đòi hỏi thiết yếu của Nhân dân. Trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện, làng, Người căn dặn: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”7. Phát biểu tại phiên họp của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”8, v.v. Những lời căn dặn và sự chỉ đạo cụ thể đó cho thấy, trong tư tưởng và hành động của Người, phục vụ Nhân dân không phải là yêu cầu chung chung mà thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân. Mọi cán bộ, công chức, viên chức đều phải vì dân, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân, đảm bảo cho dân có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Chính phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”9. Từ đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa, đặt trách nhiệm phục vụ Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; chống biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Chính Người là hiện thân sinh động, tấm gương sáng ngời về tinh thần tận tâm, tận lực phục vụ Nhân dân.

Ba là, luôn gần gũi, gắn bó và học hỏi Nhân dân. Đây là biểu hiện rõ nét của phong cách làm việc quần chúng Hồ Chí Minh, thể hiện tư tưởng trọng dân, sâu sát cơ sở, bám sát thực tiễn để lắng nghe, thấu hiểu, học hỏi và phục vụ Nhân dân. Với quan điểm: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng10, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị đội ngũ cán bộ của Đảng, Chính phủ làm việc với tinh thần trọng dân, có trách nhiệm với dân; gần gũi, gắn bó mật thiết với Nhân dân để thấu hiểu, phục vụ dân tốt nhất. Muốn vậy, cán bộ cần tránh bệnh chủ quan, hình thức; bệnh giấy tờ, quan liêu, xa dân; luôn sâu sát cơ sở, gần dân, lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, đời sống của Nhân dân để đề ra chính sách cho đúng.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tài năng, trí tuệ, tinh thần cách mạng của Nhân dân, nên trong công tác lãnh đạo, Người luôn phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần cầu thị, học hỏi từ Nhân dân. Người nhấn mạnh: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng”11. Bản thân Người trở thành tấm gương mẫu mực về phong cách làm việc sâu sát, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe, học hỏi Nhân dân.

Trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Bác thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ, đồng bào cả nước hoặc trực tiếp xuống cơ sở, đến với người dân, lắng nghe, trò chuyện, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. Mỗi lần đến cơ sở, Người đều trực tiếp quan sát, lắng nghe, trao đổi, kiểm tra và gợi mở cách giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Qua đó, những chỉ dẫn của Người luôn cụ thể, thiết thực, gắn lý luận với thực tiễn, thể hiện sâu sắc phương pháp làm việc khoa học, dân chủ và gần dân.

Có thể thấy, phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc “gần dân”, mà quan trọng hơn là gần để hiểu dân, học dân, phát huy sức dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đó là sự thống nhất giữa tôn trọng Nhân dân với phát huy dân chủ; giữa sâu sát thực tiễn với nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo; giữa nói với làm, giữa trách nhiệm với hiệu quả công việc.

Bộ đội Biên phòng giúp đồng bào thu hoạch lúa. Nguồn: hochiminh.vn

Trong kỷ nguyên phát triển mới, phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn là chuẩn mực chính trị, đạo đức, phương pháp và tác phong công tác đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ Quân đội nói riêng. Đặc biệt, trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, phong cách làm việc của Bác tiếp tục là nền tảng, định hướng trong xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, được biểu hiện ở những nội dung chủ yếu sau.

Thứ nhất, là cơ sở xây dựng bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng cho đội ngũ cán bộ Quân đội. Theo đó, vận dụng phong cách làm việc quần chúng Hồ Chí Minh, trước hết đội ngũ cán bộ phải thường xuyên quán triệt, nắm chắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; văn bản, hướng dẫn của các cấp để không ngừng nâng cao nhận thức chính trị; luôn sâu sát cơ sở, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe cấp dưới. Thông qua tiếp xúc, đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, cán bộ kịp thời phát hiện, giải quyết những vấn đề nảy sinh, chủ động định hướng tư tưởng, củng cố niềm tin, tăng cường sự thống nhất về ý chí và hành động trong đơn vị. Đây không chỉ là phương pháp nắm tình hình, giải quyết công việc mà còn là quá trình để cán bộ tự rèn luyện, tu dưỡng, xây dựng, củng cố lập trường, tư tưởng kiên định, vững vàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và giữ vững phẩm chất cách mạng.

Vận dụng phong cách làm việc quần chúng của Bác còn đòi hỏi cán bộ phải thực sự tin tưởng vào quần chúng, biết dựa vào tập thể, phát huy trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ; tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu những ý kiến xác đáng từ cơ sở. Qua đó, cán bộ không chỉ nắm chắc tình hình tư tưởng mà còn tự rèn luyện bản lĩnh, nâng cao năng lực thuyết phục, khả năng quy tụ, tập hợp quần chúng và củng cố sự thống nhất trong đơn vị.

Cùng với đó, mỗi cán bộ phải thực sự phát huy dân chủ, biết dựa vào tập thể, phát huy trí tuệ và sức mạnh của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ; biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến chính đáng của bộ đội. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, thực hiện tốt việc nêu gương, nói đi đôi với làm, tạo sự đồng thuận trong đơn vị. Đồng thời, cán bộ phải thực sự thương yêu, có trách nhiệm với bộ đội; đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Qua đó, góp phần củng cố đoàn kết nội bộ, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cấp trên với cấp dưới; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng.

Thứ hai, là cơ sở xây dựng tác phong công tác khoa học, dân chủ, sát thực tiễn, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ Quân đội. Trên cơ sở quán triệt, thực hiện phong cách làm việc “dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân,...”12, đội ngũ cán bộ Quân đội cần gắn lý luận với thực tiễn, sâu sát cơ sở, trực tiếp kiểm tra, khảo sát, lắng nghe ý kiến của cán bộ, chiến sĩ; nắm chắc tình hình, đánh giá đúng thực chất, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy phù hợp. Qua đó, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, chất lượng tham mưu, khả năng xử trí các tình huống, nhất là những vấn đề mới, phức tạp, đột xuất trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Trong điều kiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đặt ra yêu cầu ngày càng cao, môi trường hoạt động có nhiều yếu tố mới, phức tạp, cán bộ càng phải khắc phục tư duy chủ quan, kinh nghiệm đơn thuần, bệnh hình thức, hành chính hóa trong lãnh đạo, chỉ huy. Phải trực tiếp xuống cơ sở, kiểm tra đến nơi, nghe đến chốn, nhìn thẳng vào thực chất vấn đề; lấy thực tiễn làm căn cứ để điều chỉnh phương pháp lãnh đạo, chỉ huy. Đồng thời, thường xuyên tự học, tự rèn, cập nhật tri thức mới; tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, chỉ huy đơn vị.

Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được tham gia đóng góp ý kiến, biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến xác đáng; phát huy trí tuệ tập thể, bảo đảm mọi chủ trương sau khi thống nhất được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả và kiên quyết đấu tranh với biểu hiện dân chủ hình thức hoặc lợi dụng dân chủ. Mặt khác, cán bộ luôn gương mẫu, đi đầu, có mặt ở nơi khó khăn, trực tiếp giải quyết những vấn đề phức tạp, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ, sự tiến bộ của đơn vị làm thước đo phẩm chất, năng lực của cán bộ.

Như vậy, vận dụng phong cách làm việc quần chúng Hồ Chí Minh chính là quá trình chuyển hóa phương pháp “gần dân, sát thực tiễn, phát huy dân chủ, dựa vào quần chúng” thành phương pháp lãnh đạo, chỉ huy cụ thể; qua đó, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng xử trí tình huống và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ Quân đội.

Thứ ba, là cơ sở, nền tảng củng cố mối quan hệ đoàn kết quân - dân và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ Quân đội phải thường xuyên sâu sát cơ sở, gắn bó với bộ đội và Nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, chủ động nắm tình hình địa bàn, kịp thời tham mưu, giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội, làm cho hình ảnh, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng được bồi đắp, tỏa sáng. Khi thực hiện công tác dân vận, đội ngũ cán bộ không chỉ tuyên truyền, vận động mà phải biết lắng nghe, đối thoại, giải thích, thuyết phục; lấy hiệu quả chăm lo đời sống, giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, xóa đói, giảm nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội bằng những mô hình cụ thể, thiết thực13 để không ngừng củng cố quan hệ đoàn kết, gắn bó quân - dân. Đặc biệt, trong điều kiện thông tin trên không gian mạng phát triển nhanh chóng, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và những vấn đề phát sinh ở cơ sở có thể lan truyền nhanh, tác động rộng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ Quân đội phải đổi mới phương pháp dân vận. Không chỉ “đến với dân” mà chủ động nắm tình hình, đối thoại, giải thích, thuyết phục; không chỉ vận động mà bằng hành động cụ thể, hiệu quả để dân tin, dân đồng thuận và tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, đội ngũ cán bộ phải tận tụy, trách nhiệm, công tâm, trong sáng để nói dân hiểu, làm dân tin, hành động vì lợi ích của Nhân dân, không ngừng củng cố mối quan hệ đoàn kết quân - dân ngày càng bền chặt, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ Quân đội cần nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của Quân đội không chỉ được tạo nên bởi tổ chức, con người, vũ khí, trang bị mà còn được bảo đảm bởi sự đồng thuận, tin tưởng, ủng hộ của Nhân dân. Vì vậy, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân vừa là yêu cầu về phương pháp công tác, vừa là yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, đẩy mạnh học tập, thực hành phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trở thành việc làm thường xuyên, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Qua đó, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, gắn bó mật thiết với Nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

TS. PHẠM VĂN MINH, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS. NGUYỄN HỒNG NGUYÊN, Khoa Công tác đảng, công tác chính trị, Học viện Kỹ thuật quân sự


1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 501.

2 - Sđd, Tập 14, tr. 467.

3 - Sđd, Tập 7, tr. 434.

4 - Sđd, Tập 9, tr. 382.

5 - Sđd, Tập 5, tr. 335.

6 - Sđd, Tập 4, tr. 272.

7 - Sđd, tr. 65.

8 - Sđd, tr. 175.

9 - Sđd, Tập 9, tr. 518.

10 - Sđd, Tập 5, tr. 330.

11 - Sđd, tr. 333.

12 - Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

13 - Hiện nay, có nhiều mô hình dân vận của các đơn vị Quân đội đang hoạt động hiệu quả, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Nâng bước em tới trường”, “Xuân biên cương”, “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, v.v.