I. Đổi mới - bước ngoặt tư duy góp phần làm nên tầm vóc của Đảng
II. Từ lý luận đến thực tiễn - sức sống của đường lối đổi mới trong 40 năm phát triển đất nước
III. Lý luận về đường lối đổi mới - nền tảng đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã định hình một tầm nhìn chiến lược: đất nước ta đang đứng trước bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đây là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong tiến trình đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, định hướng chiến lược trong việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triển đất nước; là cơ sở lý luận định hướng, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững, đưa đất nước vững bước tiến lên trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Phiên khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. |
Kiên định nguyên tắc, đổi mới sáng tạo - nền tảng lý luận định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Sức sống của lý luận về đường lối đổi mới trước hết nằm ở bản chất khoa học và biện chứng, luôn giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tính kiên định và tính sáng tạo. Đảng ta luôn nhất quán khẳng định tầm quan trọng của việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Chính sự kiên định trên nền tảng lý luận khoa học ấy đã tạo cơ sở tư tưởng vững chắc để Đảng hoạch định đường lối phát triển đúng đắn, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề quan trọng để đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Tuy nhiên, tính kiên định trong lý luận của Đảng hoàn toàn đối lập với tư duy giáo điều, rập khuôn. Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước đột phá mạnh mẽ về tư duy, tầm nhìn và hành động khi thúc đẩy đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển. Tư duy lý luận mới yêu cầu phải lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Sự sáng tạo lý luận của Đảng thể hiện ở năng lực bám sát hơi thở của thực tiễn để giải quyết hài hòa các mối quan hệ lớn. Điển hình là cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đạt được những kết quả mang tính đột phá. Sự phát triển không ngừng của lý luận đổi mới đã trở thành nền tảng định hướng những quyết sách chiến lược, giúp Đảng lãnh đạo đất nước chủ động nắm bắt thời cơ, khơi thông các nguồn lực phát triển, tạo động lực đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - đòn bẩy giải phóng sức sản xuất, tạo bứt phá cho mô hình tăng trưởng
Lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đóng góp lý luận sáng tạo, có tính đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên mới, Đại hội XIV của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ đột phá chiến lược là tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực. Thể chế kinh tế phải được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm.
Động lực cất cánh của nền kinh tế trong giai đoạn mới phải dựa trên việc xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đảng chỉ rõ, phải lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm động lực chính để tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, tư duy lý luận về cấu trúc các thành phần kinh tế tiếp tục được hoàn thiện sâu sắc: phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; đồng thời phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất. Sự định hình lý luận này bảo đảm cho việc cởi trói cơ chế, thực hiện đồng bộ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD và kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP.
![]() |
| Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nguồn: baochinhphu.vn |
Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đặt con người làm trung tâm, động lực và mục tiêu của mọi chiến lược phát triển
Khác biệt bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam chính là mục tiêu tối thượng: phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân. Lý luận của Đảng khẳng định, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân; lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu.
Hệ thống lý luận trong giai đoạn mới định vị phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Mục tiêu là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, thể lực, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo và kỹ năng số. Đồng thời, giáo dục và đào tạo tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc với quyết sách chiến lược xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
Xây dựng xã hội Việt Nam kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Pháp luật, kỷ cương và các chuẩn mực xã hội được tôn trọng, bảo vệ, thực thi nghiêm minh; an ninh con người được bảo đảm toàn diện; kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, gắn kết hài hòa với phát triển toàn diện văn hóa và con người trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam1.
Hoàn thiện mô hình quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững, giải quyết tốt các chính sách an sinh, an toàn, an dân, nhất là đối với các đối tượng yếu thế. Bản chất nhân văn này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu xã hội phấn đấu cho giai đoạn 2026 - 2030: chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi (thời gian sống khỏe mạnh tối thiểu 68 năm) và đưa Việt Nam lọt vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới.
Tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh - chủ động giữ nước “từ sớm, từ xa”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới
Trong một thế giới đầy biến động, xung đột địa chính trị diễn ra gay gắt, lý luận của Đảng về quốc phòng, an ninh chính là “bộ giáp” bảo vệ đất nước vững vàng trước mọi sóng gió. Tư duy chiến lược của Đảng đạt bước chuyển lớn khi xây dựng lý luận an ninh toàn diện, không chỉ giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mà còn bảo vệ vững chắc an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước và an ninh lương thực. Thành tựu bao trùm, cốt lõi là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trục lý luận xương sống của lĩnh vực này là quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc, nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong. Lý luận của Đảng khẳng định, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Từ tư duy đó, nhiệm vụ trọng tâm được xác định là: tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Sức mạnh vũ trang kết hợp với “thế trận lòng dân” vững chắc sẽ là chỗ dựa tin cậy để giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Biên đội tàu Hải quân nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. |
Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới - bản sắc độc lập, tự chủ và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Trên mặt trận đối ngoại, lý luận đổi mới của Đảng khẳng định, việc thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Đảng chỉ rõ yêu cầu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Nguyên tắc bất biến trong tư duy đối ngoại của Đảng là: bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Việt Nam khẳng định vị thế là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, chủ động tham gia đóng góp vào hòa bình, hữu nghị và giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế. Tư duy ngoại giao sáng tạo này vừa giúp kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định thuận lợi cho phát triển đất nước, vừa nâng tầm vị thế quốc tế của Việt Nam tương xứng với một quốc gia đang vươn mình mạnh mẽ.
Sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, mọi đường lối lý luận đúng đắn chỉ có thể trở thành hiện thực sinh động khi có một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh và một hệ thống tổ chức vận hành thông suốt. Chính vì vậy, lý luận về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn giữ vị trí “then chốt”, là nhân tố quyết định để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Trong kỷ nguyên mới, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Đảng phải tăng cường tự đổi mới, tự hoàn thiện để thật sự là đạo đức, là văn minh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng định hình rõ nét các nhiệm vụ lý luận và thực tiễn cốt lõi trong xây dựng Đảng. Về công tác tổ chức và cán bộ: triển khai hoạt động có hiệu quả tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo mô hình mới. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả theo đúng chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu thật sự tiêu biểu, có đức, có tài, có tư duy và năng lực quản trị tiên tiến. Thu hút, trọng dụng nhân tài và có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tiêu cực: tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Về Nhà nước pháp quyền: tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại; đồng thời, nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Khát vọng vươn mình và trách nhiệm lịch sử trong giai đoạn mới
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 40 năm đổi mới là minh chứng hùng hồn khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Sau 40 năm đổi mới, Đảng ta đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm quý báu mang tầm lý luận, từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, có giá trị định hướng thực tiễn sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Hướng tới tương lai, Đảng đã vạch ra lộ trình tổng kết mang tính bước ngoặt: Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Để hệ thống lý luận đổi mới thực sự trở thành động lực đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần tập trung triển khai các quyết sách chiến lược. Thống nhất ý chí và hành động: khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Gắn kết chặt chẽ lý luận và thực tiễn: gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đổi mới mạnh mẽ tư duy để nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức. Tập trung thực hiện các đột phá chiến lược: quyết liệt thực hiện ba đột phá chiến lược về thể chế phát triển nhanh, bền vững; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại (hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng số, hạ tầng xanh, hạ tầng văn hóa, giáo dục).
Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới là tài sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng những nỗ lực bền bỉ của Nhân dân ta qua 40 năm đổi mới. Hệ thống lý luận khoa học và giàu tính thực tiễn ấy đã được khẳng định vững chắc trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trở thành bệ đỡ đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đất nước sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
PHẠM TUẤN - MINH ĐỨC - ĐÌNH BẰNG - GIA ĐỒNG
1 - Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “Về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển”.







