Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng là chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước ta nhằm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc trên các địa bàn chiến lược. Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ quan trọng này.
Thực tiễn hơn 25 năm xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng
Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng là sự cụ thể hóa tư duy chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng, Nhà nước ta, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên các địa bàn chiến lược của đất nước.
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 31/3/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 277/2000/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án tổng thể Quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, gắn với xây dựng các khu quốc phòng an ninh trên địa bàn chiến lược, biên giới, ven biển. Tiếp đó là Quyết định số 43/2002/QĐ-TTg, ngày 21/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt bổ sung Đề án quy hoạch tổng thể các khu các khu kinh tế - quốc phòng. Theo đó, Quân đội được giao nhiệm vụ triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng; trọng tâm là phối hợp với địa phương xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược. Đồng thời, hỗ trợ, giúp Nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, kết hợp thực hiện công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, v.v.
![]() |
| Cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327 (Quân khu 3) cùng Nhân dân trên địa bàn chăm sóc cây trồng. Nguồn: qdnd.vn |
Qua hơn 20 năm thực hiện, việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng đã đạt được mục tiêu tổng quát là để đồng bào các dân tộc định canh, định cư, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; đồng thời, xây dựng các cụm dân cư biên giới, tạo “vành đai” bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Từ những vùng đất hoang sơ, biệt lập, các khu kinh tế - quốc phòng đã phát triển kết cấu hạ tầng, hình thành hệ thống đường giao thông liên xã, công trình thủy lợi, điện, nước, trường học, bệnh xá, đem tri thức, văn hóa và thông tin đến với Nhân dân tại các điểm dân cư mới. Cùng với đó, là những cánh rừng cao su, đồi chè, nương lúa,… giúp cải thiện dân sinh. Nhiều địa bàn từng là “vùng trắng dân cư”, nay đã hình thành các cụm dân cư ổn định, như: Bắc Hải Sơn (Quảng Ninh), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Bảo Lạc - Bảo Lâm (Cao Bằng)..., góp phần giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Các đoàn kinh tế - quốc phòng đã tích cực hỗ trợ đồng bào chuyển đổi phương thức sản xuất từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi. Từ chỗ chỉ biết phát nương làm rẫy, đồng bào các dân tộc thiểu số đã biết trồng lúa nước, chăn nuôi tập trung, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, với nhiều mô hình, chương trình khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ cây trồng, vật nuôi, xây dựng kinh tế,… phù hợp với từng địa bàn, giúp Nhân dân xóa đói giảm nghèo.
Thông qua hoạt động dân vận, quân dân y kết hợp, hỗ trợ giáo dục, khám chữa bệnh, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,… đã góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên giới.
Sự phát triển của các khu kinh tế - quốc phòng đã góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh trên nhiều địa bàn chiến lược, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, v.v. Việc hình thành các cụm dân cư biên giới, ổn định dân cư, chống “trắng dân”, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh đã góp phần xây dựng khu vực phòng thủ cấp tỉnh và cơ sở ngày càng vững chắc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn chiến lược. Đặc biệt, các công trình hạ tầng được đầu tư trong khu kinh tế - quốc phòng vừa phục vụ dân sinh, phát triển sản xuất, vừa có khả năng chuyển hóa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết. Các tuyến đường giao thông, công trình thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc,… không chỉ tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa mà còn nâng cao khả năng cơ động lực lượng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
Có thể khẳng định, các khu kinh tế - quốc phòng đã phát huy hiệu quả to lớn cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh; thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.
Hiện nay, trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng, biên giới quốc gia không chỉ là không gian địa lý, mà còn là không gian kinh tế, văn hóa, thông tin và an ninh mạng. Những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Do đó, tiếp tục nghiên cứu, triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng không chỉ xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài là giữ đất, giữ dân, giữ biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên cương của Tổ quốc.
Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng hiện nay
Một là, nâng tầm nhận thức chiến lược về vai trò, tầm quan trọng của các khu kinh tế - quốc phòng. Trong bối cảnh mới, cần tiếp cận các khu kinh tế - quốc phòng từ tầm nhìn chiến lược, không chỉ là mô hình xóa đói, giảm nghèo hay hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đơn thuần, mà phải được nhìn nhận là thiết chế chiến lược trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ dân, giữ đất, giữ biên giới từ sớm, từ xa. Biên giới ngày nay không chỉ là không gian địa lý mà còn là không gian kinh tế, văn hóa, thông tin và an ninh phi truyền thống. Vì vậy, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng phải gắn với xây dựng “biên giới vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, - an ninh, bền chặt về lòng dân”.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn đó, cần tiếp tục xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp liên ngành giữa Quân đội với các ban, bộ, ngành và địa phương trong xây dựng, quản lý và phát triển các khu kinh tế - quốc phòng theo hướng ngày càng rõ chức năng, rõ trách nhiệm, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và tránh chồng chéo. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy hiệu quả nguồn lực xã hội, nhất là huy động doanh nghiệp tham gia phát triển kinh tế vùng biên giới, biển, đảo; xây dựng cơ chế đầu tư trung hạn, dài hạn phù hợp với đặc thù các khu kinh tế - quốc phòng, tạo nền tảng phát triển ổn định, bền vững lâu dài.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức, hoạt động của các đoàn kinh tế - quốc phòng theo hướng nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mới. Các khu kinh tế - quốc phòng không chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ hành chính hoặc triển khai các chương trình mang tính ngắn hạn, mà cần tiếp tục chuyển mạnh sang vai trò “dẫn dắt phát triển”, làm nòng cốt liên kết các nguồn lực trên địa bàn. Trong điều kiện kinh tế thị trường và chuyển đổi số hiện nay, cần nghiên cứu cơ chế để các đoàn kinh tế - quốc phòng có thể tham gia hiệu quả hơn vào phát triển kinh tế địa phương, như: xây dựng hạ tầng, logistics biên giới, dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, liên kết chuỗi giá trị nông sản, hỗ trợ thương mại điện tử vùng biên, v.v. Đồng thời, cần nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các đoàn kinh tế - quốc phòng theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt, cần quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn kinh tế - quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có kỹ năng toàn diện, kiến thức tổng hợp về quản lý kinh tế, quản trị dự án, hiểu biết văn hóa các dân tộc trên địa bàn, có kỹ năng dân vận, ứng dụng khoa học, công nghệ và khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, v.v.
Ba là, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng theo hướng phát triển “biên giới số”. Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và không gian mạng trở thành một không gian chiến lược mới, việc xây dựng khu kinh tế - quốc phòng cần tiếp cận theo hướng kết hợp giữa phát triển hạ tầng truyền thống với phát triển hạ tầng số, từng bước hình thành nền tảng cho phát triển kinh tế số, xã hội số và tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn biên giới. Theo đó, bên cạnh tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông, điện, nước, trường, trạm,… cần đặc biệt quan tâm phát triển hạ tầng số, thúc đẩy giáo dục số, y tế từ xa, dịch vụ công trực tuyến và phổ cập kỹ năng số cho người dân vùng biên giới, thu hẹp khoảng cách số với các vùng phát triển. Mặt khác, trước sự gia tăng hoạt động lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… việc xây dựng “thế trận lòng dân” cần được mở rộng cả trên không gian thực và không gian số, đòi hỏi các đoàn kinh tế - quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận truyền thống với công tác thông tin, truyền thông hiện đại.
![]() |
| Trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327 (Quân khu 3) hướng dẫn bà con trên địa bàn kỹ thuật chăm sóc cây trồng. Nguồn: qdnd.vn |
Bốn là, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trẻ tình nguyện trong xây dựng khu kinh tế - quốc phòng. Thực tiễn triển khai Dự án tăng cường trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các khu kinh tế - quốc phòng cho thấy, đây là một chủ trương lớn, có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho các địa bàn chiến lược và lan tỏa tri thức, khoa học, công nghệ, tinh thần đổi mới sáng tạo đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ trí thức trẻ không chỉ tham gia thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn mà phải trở thành lực lượng xung kích nòng cốt của phong trào “Bình dân học vụ số”, từng bước phổ cập kiến thức và kỹ năng số cho đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới. Do đó, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trẻ trong các khu kinh tế - quốc phòng; xây dựng mô hình “Bản làng số”, “Tổ công nghệ cộng đồng vùng biên”; trong đó, trí thức trẻ tình nguyện cùng cán bộ đoàn kinh tế - quốc phòng, đoàn viên, thanh niên địa phương và Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt, hướng dẫn Nhân dân sử dụng nền tảng số, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, quảng bá sản phẩm địa phương trên môi trường mạng, nâng cao kỹ năng nhận diện thông tin xấu độc và xây dựng đời sống văn hóa số lành mạnh nơi biên giới. Tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức trẻ tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực, như: giáo dục số, y tế từ xa, nông nghiệp số, xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, bảo tồn văn hóa dân tộc bằng công nghệ số, v.v.
Năm là, đẩy mạnh xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên biển, đảo. Đây là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, nhằm xây dựng thế trận phòng thủ liên hoàn từ đất liền ra biển, đảo, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển trong tình hình mới. Theo đó, cùng với việc tiếp tục củng cố các khu kinh tế - quốc phòng trên đất liền, cần tiếp tục nghiên cứu phát triển mô hình khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với điều kiện biển, đảo, coi đây là hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược nhằm thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Xây dựng khu kinh tế - quốc phòng trên biển, đảo không đơn thuần là phát triển kinh tế biển hay hỗ trợ dân sinh cho ngư dân, mà phải được đặt trong tổng thể xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân trên biển; gắn với quy hoạch phát triển các trung tâm hậu cần nghề cá, các cụm dịch vụ hậu cần trên biển, hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, các đảo thanh niên, làng chài bám biển, v.v. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các đoàn kinh tế - quốc phòng với lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, dân quân tự vệ biển trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.
Do đặc thù môi trường biển, đảo, việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng cần nghiên cứu xác định rõ hệ thống tiêu chí, về: vị trí chiến lược quốc phòng, an ninh; khả năng kết hợp giữa phát triển kinh tế biển với bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phục vụ quốc phòng; năng lực bám biển, giữ biển của ngư dân; khả năng cơ động, cứu hộ cứu nạn; hạ tầng thông tin, quan sát, giám sát biển; khả năng chuyển hóa từ phục vụ dân sinh sang phục vụ quốc phòng khi có tình huống. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng cộng đồng dân cư ven biển và trên các đảo phát triển ổn định, có sinh kế bền vững, đủ điều kiện vươn khơi bám biển lâu dài, phát huy vai trò “cột mốc sống” bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng biển, đảo cần gắn với phát triển “không gian số trên biển”, từng bước hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, giám sát hành trình, cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý hoạt động nghề cá; đồng thời, nâng cao năng lực đấu tranh phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp và không khai báo (IUU), bảo vệ môi trường sinh thái biển và phát triển kinh tế biển bền vững, hiện đại.
Sáu là, nâng cao năng lực ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống và biến đổi khí hậu; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, gắn với củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thách thức an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp; tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, an ninh nông thôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ,… đòi hỏi các khu kinh tế - quốc phòng phải được quy hoạch theo hướng phát triển bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội tác động sâu sắc tới đời sống văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới, biển, đảo, dẫn tới nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống, suy giảm tính cố kết cộng đồng, hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái pháp luật,… cũng đặt ra những thách thức mới. Do đó, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng cần gắn chặt với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; xây dựng đời sống văn hóa mới; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy vai trò chủ thể của đồng bào các dân tộc trong quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Thiếu tướng, PGS, TS. TRẦN TRUNG TÍN, Nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng






