Cách đây 60 năm, trong Chiến dịch tiến công Hiệp Đức - Đồng Dương, với nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng độc đáo, ta liên tiếp “đánh hiểm, đánh đau” các đơn vị tinh nhuệ của địch ở khu vực giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng Quân khu 5. Thắng lợi của Chiến dịch đã tạo chuyển biến mới trong thế tiến công chiến lược, cổ vũ phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” của quân và dân ta.
Bước sang năm 1965, với những thất bại liên tiếp trên các chiến trường đã làm cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng bên bờ vực phá sản hoàn toàn. Nhưng với mưu đồ dùng sức mạnh quân sự để giành lại ưu thế, thắng lợi quyết định, đế quốc Mỹ “liều lĩnh” thực hiện bước leo thang mới, rất nguy hiểm, hòng tiếp tục theo đuổi tham vọng, thông qua chiến lược quân sự “Chiến tranh cục bộ”. Theo đó, chúng ồ ạt đưa quân (cả quân một số nước chư hầu) vào trực tiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Trên địa bàn Quân khu 5, quân Mỹ sử dụng một số đơn vị thiện chiến với vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu hiện đại tăng cường cho các vị trí trọng yếu ở Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Quy Nhơn, Cam Ranh,… hòng tạo điểm tựa vững chắc để tiến hành các cuộc hành quân “tìm và diệt”. Tuy nhiên, sau “thất bại đau đớn” trong Chiến dịch Plei Me, quân địch bị ta bao vây, rơi vào thế cô lập, bị động đối phó, buộc phải co cụm trong các căn cứ, chi khu, quận lỵ. Để tạo “vỏ bọc cứng”, bảo vệ các căn cứ trọng yếu từ xa, trên địa bàn giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng ở Hiệp Đức, Đồng Dương và các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước tỉnh Quảng Nam, địch bố trí một số đơn vị thiện chiến, tinh nhuệ1 cùng lực lượng bảo an, dân vệ, biệt kích, sẵn sàng ngăn chặn các đòn tiến công của ta.
![]() |
| Các cháu học sinh tham quan Tượng đài chiến thắng Đồng Dương. |
Về ta, trên đà thắng lợi của Chiến dịch Plei Me, lợi dụng lúc quân địch đang hoang mang, mất phương hướng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở Chiến dịch Hiệp Đức - Đồng Dương, tiến công vào vùng giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, tạo thế đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh du kích, hình thành các “vành đai” diệt Mỹ, mở rộng vùng giải phóng; đồng thời, thông qua tác chiến để bồi dưỡng lực lượng, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn hơn. Quán triệt tư tưởng: “đánh địch ngoài công sự là chính, đánh chắc thắng, đánh liên tục, đánh thắng ngay trận đầu; kết hợp chặt chẽ tác chiến của các đơn vị chủ lực với đấu tranh chính trị, binh vận và nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp, giành đất, giành dân mở rộng vùng giải phóng”2, cùng quyết tâm chiến đấu cao và nghệ thuật quân sự độc đáo, sau hơn 01 tháng liên tục tiến công, Sư đoàn bộ binh 2 cùng các đơn vị đã lập nên những chiến công xuất sắc, đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của địch. Thắng lợi của Chiến dịch để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật tác chiến chiến dịch, nhất là khi tác chiến với quân Mỹ, trong đó có nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng.
Một là, tổ chức, sử dụng lực lượng đánh điểm, vây điểm, diệt viện phù hợp. Để “lừa dụ” địch rơi vào “cái bẫy” mà ta giăng sẵn ở Hiệp Đức - Đồng Dương, đòi hỏi Bộ Tư lệnh và cơ quan Chiến dịch phải tổ chức, sử dụng lực lượng đánh điểm, vây điểm, diệt viện hợp lý. Bởi, nếu sử dụng lực lượng đánh điểm, vây điểm quá lớn thì khi địch ứng cứu, giải tỏa, ta không có đủ lực lượng để “diệt viện”, không đạt mục đích chính của Chiến dịch đề ra; ngược lại, nếu sử dụng lực lượng đánh điểm, vây điểm không đủ mạnh để liên tục tạo áp lực đủ lớn thì sẽ không “câu viện” thành công.
Thực tiễn Chiến dịch cho thấy, khi vây điểm ở Việt An, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 60 cùng 03 trung đội du kích; còn lại sử dụng lực lượng lớn tập trung diệt viện binh địch, gồm: 03 tiểu đoàn bộ binh (40, 90, 70) và các đơn vị hỏa lực của Chiến dịch. Đây thực sự là nét nổi bật trong tổ chức, sử dụng lực lượng, vì Việt An là cứ điểm tương đối độc lập trên đoạn đường huyết mạch nối liền giữa Hiệp Đức và Đồng Dương, nằm ở giữa ba ngọn núi (Lạc Sơn, Liệt Kiểm, Chóp Chài), do vậy ta chỉ cần sử dụng một lực lượng vừa phải, chiếm giữ địa hình có lợi xung quanh, bố trí hỏa lực hợp lý, đánh cắt giao thông tách rời Việt An với Hiệp Đức và Đồng Dương thì cứ điểm quan trọng này sẽ nhanh chóng bị bao vây cô lập hoàn toàn, lực lượng ở trong sẽ không thể tự phá vây tháo chạy. Với lực lượng vừa phải, nhưng tận dụng tốt thế có lợi của địa hình, lập thế trận đánh điểm, vây điểm hiểm, sắc, ta đã “khóa chặt” quân địch ở Việt An trong suốt 12 ngày; đồng thời, có lực lượng đủ mạnh, với thế trận đã chuẩn bị từ trước, “chờ sẵn” lực lượng ứng cứu, giải tỏa của địch để tiêu diệt - diệt viện. Đúng như dự tính, không muốn mất “mắt xích” Việt An, địch vội tổ chức 01 chiến đoàn3 ngụy quân đi cứu viện và rơi vào thế trận của ta giăng sẵn, nhanh chóng bị các đơn vị của Sư đoàn bộ binh 2 đánh bại; tàn quân của chúng buộc phải co cụm ở Đồng Dương, tạo thời cơ thuận lợi để ta đánh trận then chốt quyết định Chiến dịch, giành thắng lợi.
Hai là, kịp thời điều chỉnh lực lượng, thực hiện “tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu” của địch. Trong Chiến dịch này, nhờ tư duy sáng tạo, nhạy bén khi nghiên cứu, đánh giá, kết luận tình hình các mặt, nhất là nghệ thuật “biết địch, biết ta”, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh lực lượng chủ lực, tránh đối đầu trực tiếp với quân Mỹ khi chúng đang mạnh, chờ thời cơ đánh “đòn quyết định” vào bên sườn, phía sau, nơi mỏng yếu của chúng. Vì vậy, khi quân Mỹ sử dụng 04 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đổ bộ đường không xuống khu vực An Lý, Châu Xuân, Điểm cao 51, Gia Hội, An Tráng,… ta chủ trương chia lực lượng chủ lực thành 02 cánh quân gồm: cánh quân phía Bắc (Trung đoàn bộ binh 21 và các tiểu đoàn trợ chiến của Sư đoàn), cánh quân phía Nam (Trung đoàn bộ binh 1), để tránh đối diện trực tiếp với quân Mỹ ở khu vực trung tâm; chờ thời cơ đánh quân Mỹ rút lui về Tam Kỳ (khi không “tìm diệt” được chủ lực của ta). Đây là quyết định chính xác của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, bởi quân địch huy động lớn lực lượng, phương tiện hiện đại, chi viện mạnh hỏa lực pháo binh, không quân, trong đó có sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52, đánh phá vào các trọng điểm nhằm bảo đảm cho lực lượng đổ bộ. Về ta, sau 02 đợt liên tục tiến công tiêu diệt địch, các đơn vị có thương vong, cần thời gian bổ sung, củng cố lực lượng, chuẩn bị đầy đủ mọi mặt cho những trận đánh quyết định. So sánh lực lượng lúc này, rõ ràng ta yếu hơn địch, nếu đối đầu trực tiếp, thương vong của các đơn vị sẽ lớn, hiệu suất chiến đấu sẽ không cao, khó đạt được mục đích đã đề ra. Trên cơ sở nhận định, đánh giá chính xác tình hình, Chiến dịch đã chia lực lượng sang hai cánh, chờ lúc quân Mỹ mệt mỏi, lơ là, chủ quan, rút về theo các trục đường độc đạo, thì bất ngờ giáng những đòn “sấm sét” vào đội hình hành quân của chúng. Đây là sự lựa chọn khôn ngoan, thể hiện nghệ thuật tạo và nắm thời cơ, “hiểu địch để thắng địch” của Bộ Tư lệnh Chiến dịch. Nhờ kịp thời điều chỉnh, có thời gian củng cố lực lượng, tạo lập thế trận hiểm, sắc, nên khi nhận được tin quân Mỹ sẽ cơ động qua Cẩm Khê về Tam Kỳ sau đợt “tìm diệt” quy mô lớn nhưng trở về “tay trắng”, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng Trung đoàn bộ binh 1 vận động phục kích, tiêu diệt hàng trăm tên lính Mỹ - “đánh hiểm, đánh đau”, đánh vào lúc chúng không ngờ tới, giành thắng lợi.
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tác chiến. Đây là sự vận dụng sáng tạo, sát với thực tiễn chiến trường, phát huy cao độ nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp trong tác chiến. Theo đó, để đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn tinh nhuệ, được trang bị vũ khí hiện đại và các cứ điểm phòng ngự vững chắc của địch, ta đã tập trung lực lượng chủ lực Sư đoàn bộ binh 2 cùng bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, tạo nên những “nắm đấm mạnh”, liên tiếp giáng cho địch những đòn chí mạng, tạo thế và thời cơ có lợi để thúc đẩy chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng, đập tan ngụy quyền và bọn tay sai, phản động. Thực tiễn đợt 1 của Chiến dịch, Tiểu đoàn 60 và 90 cùng bộ đội địa phương huyện Quế Sơn tập trung tiêu diệt địch ở Đồi Tranh, Đồi Sơn, Núi Lớn, làm chủ khu hành chính quận Hiệp Đức. Thắng lợi đó đã mở ra thời cơ để đẩy mạnh chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng, tảo trừ và bắt những tên địch còn lẩn trốn, bức hàng đồn dân vệ Tú La, quét sạch các ổ tề điệp, phá tan ngụy quyền ở các xã, mở rộng vùng giải phóng, làm cho thắng lợi càng thêm triệt để.
Để phối hợp với hướng tiến công chủ yếu của các đơn vị chủ lực, trên hướng thứ yếu, trước khi Chiến dịch nổ ra, Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam và du kích nổ súng tiêu diệt 02 đại đội bảo an của địch. Đòn đánh bất ngờ này đã khéo lừa dụ và đánh lạc hướng chú ý của địch, khiến chúng bộc lộ nhiều sở hở, tạo thuận lợi cho các đơn vị chủ lực trên hướng chủ yếu giữ được yếu tố bất ngờ, tập trung “đánh lớn”, giành thắng lợi quyết định. Phát huy kết quả có lợi, đại đội địa phương huyện Thăng Bình đánh vào quận lỵ diệt 01 trung đội bảo an và phá 12 ấp chiến lược, du kích các địa phương diệt ác ôn, phá các cơ sở hậu cần, kỹ thuật của địch, v.v. Như vậy, nhờ tạo thế trận đánh địch rộng khắp, cài xen, bộ đội địa phương, du kích trên địa bàn đã khiến cho ngụy quân, ngụy quyền ngày càng “rệu rã”, bị tiêu hao, suy yếu nghiêm trọng, vùng kiểm soát bị thu hẹp, khả năng phối hợp, hiệp đồng, hỗ trợ, chi viện lẫn nhau giữa quân Mỹ với ngụy quân, ngụy quyền chỉ ở mức độ nhất định, sức mạnh chiến đấu ngày càng giảm sút, dẫn đến thất bại.
Thắng lợi của Chiến dịch Hiệp Đức - Đồng Dương đã tạo bước chuyển mới trong thế trận chiến lược tiến công của ta ở địa bàn Quân khu 5. Những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong tác chiến chiến dịch cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Đại tá, ThS. NGUYỄN HOÀI NAM, Học viện Quân y
__________________
1 - Gồm: 06 tiểu đoàn bộ binh, 01 chi đoàn thiết giáp, 02 tiểu đoàn pháo binh, v.v.
2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam – Một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập 1: 1964 - 1966, Nxb QĐND, H. 2018, tr. 246.
3 - Tiểu đoàn 11 biệt động quân; Tiểu đoàn 1, 3 (Trung đoàn 5), 01 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 6.

