Nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971

3/9/2026 8:08:34 PM

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đầu tiên của Quân đội ta. Chiến dịch giành thắng lợi giòn giã, đánh bại hoàn toàn Cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và để lại nhiều bài học quý về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định.

Bước sang năm 1971, cùng với nỗ lực đẩy mạnh thực hiện kế hoạch “bình định” nông thôn, Mỹ - ngụy huy động nhiều đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến, mở Cuộc hành quân Lam Sơn 7191 đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào hòng triệt phá hệ thống căn cứ, kho tàng hậu cần của ta ở khu vực Sê Pôn, cắt đứt tuyến hành lang vận tải chiến lược, “bóp nghẹt” cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương từ gốc. Đồng thời, thực nghiệm khả năng chiến đấu của quân ngụy Sài Gòn - lực lượng nòng cốt trong thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì bàn kế hoạch tác chiến trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Ảnh tư liệu

Nhận rõ ý đồ của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: cuộc hành quân đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào của địch sẽ gây cho ta nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc chúng liều lĩnh đưa quân chủ lực ra khu vực rừng núi, xa hậu cứ là cơ hội thuận lợi để ta tiêu diệt chúng. Vì vậy, Quân ủy Trung ương quyết định tập trung lực lượng, phương tiện mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào2 với mục tiêu đánh bại cuộc hành quân đầy tham vọng của địch. Sau gần hai tháng chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bằng nghệ thuật chiến dịch độc đáo, ta đã đập tan Cuộc hành quân Lam Sơn 719, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận tải chiến lược, đồng thời mở ra khả năng đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Đây là thắng lợi quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch phản công của Quân đội ta, trong đó nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng là nét nổi bật, được thể hiện trên một số vấn đề:

Một là, dự kiến chính xác khu vực tác chiến chủ yếu. Trong chiến dịch phản công, việc dự kiến khu vực tác chiến chủ yếu phải căn cứ vào hướng tiến công của địch, địa hình và xu hướng phát triển của chiến dịch. Đó phải là nơi địch tập trung lực lượng, phương tiện chủ yếu, ta có điều kiện triển khai lực lượng, phương tiện ở thế có lợi. Trên cơ sở nắm chắc mưu đồ của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch dự kiến khu vực Đường 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông là khu vực tác chiến chủ yếu và Bản Đông là khu vực tổ chức trận then chốt quyết định. Đây là quyết định hoàn toàn chính xác, bởi khu vực này có giá trị chiến thuật, khống chế một phần biên giới phía Nam Lào và trục Đường 9 - đường duy nhất để quân địch cơ động lực lượng, phương tiện lên Sê Pôn. Mặt khác, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông có nhiều điểm cao có giá trị chiến thuật, như: điểm cao 639, 351, 311,… thuận lợi cho lực lượng của ta xây dựng trận địa chốt chặn, chốt cắt vững chắc, đủ sức khống chế Đường 9 và đánh bật các cuộc tiến công của địch. Đối với Bản Đông, đây là khu vực địa hình trống trải, có chính diện rộng - khu vực có điều kiện thuận lợi để quân địch làm bàn đạp tiến lên Sê Pôn. Với ta, đây cũng là nơi có thể triển khai lực lượng, phương tiện để thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Thực tiễn Chiến dịch, sau khi vượt qua biên giới Việt - Lào, địch lập tức sử dụng Lữ đoàn 1 dù và 02 thiết đoàn (11 và 17) cơ động theo Đường 9 kết hợp với Tiểu đoàn 9 dù đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông và liên tục củng cố, biến nơi đây thành cụm cứ điểm phòng ngự hỗn hợp mạnh, tạo bàn đạp đánh chiếm Sê Pôn. Nhờ dự kiến chính xác khu vực tác chiến chủ yếu, nên các lực lượng tham gia Chiến dịch có điều kiện chuẩn bị chiến trường, bố trí lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, chủ động xây dựng trận địa chốt chặn vững chắc ở Tây Bản Đông. Qua đó, kìm giữ, giam chặt lực lượng chủ yếu của địch ở Bản Đông, tạo lập được thế trận phản công hiểm, sắc, linh hoạt, nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc Chiến dịch.

Hai là, tạo lập thế trận tiến công hiểm, sắc. Với thắng lợi của trận mở đầu và trận then chốt ở Điểm cao 723, ta đã bẻ gãy hai gọng kìm của cuộc hành quân đánh lên Sê Pôn, khiến địch phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự ở Bản Đông và tìm cách rút chạy theo Đường 9. Nhận thấy thời cơ phản công đã xuất hiện, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 102 cơ động áp sát Đường 9, phối hợp với Trung đoàn 24 xây dựng trận địa chốt cắt vững chắc ở điểm cao 351, 311,… kết hợp với vận động tiến công đánh bại nhiều đợt ứng cứu, giải tỏa, kiên quyết cắt đứt Đường 9 đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, không cho địch mở đường rút chạy.

Cùng với đó, giao cho Sư đoàn 2 tổ chức 03 điểm tựa phòng ngự dọc Đường 9 (ở cây số 27, cầu chữ S và ngã ba Đường 18) sẵn sàng đánh bật các đợt tiến công của địch trong trường hợp chúng liều lĩnh tiến đánh Sê Pôn. Đây là hành động sáng suốt, kịp thời, thể hiện tư duy sắc bén và khả năng nhận định, đánh giá tình hình chính xác của Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu Chiến dịch. Nếu ta không tổ chức chốt chặn, chốt cắt kịp thời, lực lượng địch từ Khe Sanh sẽ lập tức cơ động lên tăng viện cho Bản Đông, lúc đó ta có thể không đủ sức tiến công hoặc tiến công nhưng hiệu suất chiến đấu sẽ không cao và không đạt được mục đích của Chiến dịch đề ra - tiêu diệt lớn quân chủ lực ngụy.

Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 2, Sư đoàn 324 và lực lượng tại chỗ tiếp tục vây ép, tiến công tiêu diệt Sư đoàn 1 ngụy và Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở các Điểm cao 723, 660, 550,… diệt 08 đại đội, bắn rơi 40 máy bay trực thăng, cắt đứt khả năng chi viện từ cánh quân hướng Nam, cô lập hoàn toàn Bản Đông. Để bảo đảm chắc thắng, Chiến dịch sử dụng đồng thời 03 trung đoàn bộ binh (36, 64, 66), 02 trung đoàn pháo binh (368, 45), 05 đại đội xe tăng và chi viện của lực lượng phòng không để tiến công địch. Bố trí đội hình thành thế bao vây khu vực Bản Đông: Trung đoàn 36 tiến công hướng Đông Bắc, Trung đoàn 66 và các đơn vị binh chủng tiến công hướng Tây Bắc, Trung đoàn 64 tiến công theo hướng Tây, qua đó phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng, đập tan hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. Ngoài ra, lực lượng phòng không của Đoàn 559 tích cực khống chế đường không, hạn chế khả năng chi viện và bốc quân rút chạy bằng máy bay trực thăng. Các Mặt trận B4, B5 đẩy mạnh hoạt động phục kích, tập kích các căn cứ hậu cần, sở chỉ huy địch ở Đông Hà, Ái Tử, Sa Mưu, Tà Cơn,… tạo sức ép đồng thời, rộng khắp trên toàn địa bàn Chiến dịch, buộc địch phải phân tán chỉ huy, căng kéo lực lượng, hạn chế khả năng chi viện, tiếp tế, hỗ trợ cho Bản Đông, giúp lực lượng chủ yếu của ta có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện thành công trận then chốt quyết định.

Bộ đội Đoàn 559 mở đường cho Chiến dịch. Ảnh tư liệu

Có thể khẳng định, trong trận then chốt quyết định ở Bản Đông, nghệ thuật tạo lập thế trận được ta vận dụng linh hoạt, sáng tạo và rất hiệu quả. Các hoạt động tạo thế được tiến hành rộng khắp ở phía trước, bên sườn và phía sau, với cả địch trực tiếp và địch liên quan. Qua đó cắt đứt mọi khả năng tăng viện, ứng cứu, giải tỏa bằng cả đường bộ và đường không, khiến địch ở Bản Đông bị bao vây, cô lập hoàn toàn với các lực lượng ở xung quanh, rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”, tinh thần hoang mang, mất dần sức chiến đấu dẫn đến bị tiêu diệt.

Ba là, xác định phương pháp tác chiến phù hợp và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu. Mặc dù ta đã bẻ gãy hai gọng kìm hướng Bắc và hướng Nam, nhưng địch ở Bản Đông đã hình thành một cụm cứ điểm phòng ngự hỗn hợp, có công sự tương đối vững chắc, hỏa lực mạnh, bố trí nhiều lớp vật cản (có nơi lên đến 06 lớp hàng rào); trong khi bộ đội ta chưa có nhiều kinh nghiệm đột phá trận địa, nếu đột phá ngay sẽ khó tránh khỏi thương vong lớn. Vì vậy, Bộ Tư lệnh và cơ quan Chiến dịch xác định, tiếp tục vây ép kết hợp liên tục tiến công nhỏ, tập trung hỏa lực đánh mạnh vào khu vực Bản Đông, ép địch trong các cứ điểm phải rút chạy để thực hiện phương châm đánh địch đang vận động ngoài công sự. Với phương pháp tác chiến này, ta buộc địch phải đánh theo cách của ta, lừa dụ, ép địch cơ động vào các trận địa phục kích, đón lõng ta đã chuẩn bị sẵn; đồng thời tạo điều kiện tập trung chỉ huy, lực lượng, phương tiện và hỏa lực của Chiến dịch cho Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324 tiếp tục tiến công tiêu diệt cánh quân hướng Nam của địch. Đây là nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”, tập trung lực lượng vào đúng nơi, đúng lúc, không dàn trải, khoét sâu điểm yếu của địch.

Đặc biệt, trong trận then chốt quyết định, nghệ thuật chiến dịch đã kết hợp nhuần nhuyễn với chiến thuật, chỉ đạo chiến thuật vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả nhiều hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, giữ vững thế chủ động, liên tiếp tạo bất ngờ, khiến địch lâm vào thế bị động, lúng túng. Thực tiễn, trong quá trình các trung đoàn (36, 64, 66) vây ép, các đơn vị binh chủng đặc công, pháo binh tổ chức tập kích vào cả 03 cụm quân địch bên trong Bản Đông; Trung đoàn 102 và Trung đoàn 24 vận dụng hình thức vận động tiến công kết hợp chốt ở các khu vực điểm cao 351, 311,… đánh bại thủ đoạn đột phá bằng xe tăng, xe thiết giáp của địch, kiên quyết vây hãm, giam chặt địch để chuyển sang tiến công. Trước sức ép ngày càng lớn của ta, địch ở trong các cứ điểm hoang mang, suy sụp tinh thần cực độ, buộc phải bỏ lại vũ khí, trang bị “luồn rừng rút chạy”, tạo điều kiện để Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ huy các đơn vị đồng loạt đột phá, thọc sâu, kịp thời chuyển sang truy kích kết hợp đón lõng ở phía Nam Đường 9 tiêu diệt lực lượng lớn quân chủ lực ngụy, thu và phá hủy nhiều vũ khí, trang bị.

Tuy thời gian đã lùi xa, song việc nghiên cứu, làm sáng rõ những nét đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào vẫn là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết, làm phong phú thêm những cơ sở lý luận, thực tiễn có giá trị để tiếp tục kế thừa, vận dụng sáng tạo vào phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN TRUNG, Học viện Chính trị
____________________
       

1 - Tổng quân số lúc cao nhất khoảng 55.000 tên (40.000 quân ngụy Sài Gòn, 15.000 quân Mỹ), gồm: 04 sư đoàn, 01 liên đoàn biệt động quân, 02 lữ đoàn thiết giáp, 21 tiểu đoàn pháo binh, 02 binh đoàn quân ngụy Lào (GM30, GM33), v.v.

2 - Lực lượng gồm: 05 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 04 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp; 04 trung đoàn pháo binh; 04 trung đoàn phòng không; 03 trung đoàn công binh và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Ngoài ra, còn có lực lượng của Đoàn 559, Mặt trận B4, Mặt trận B5, v.v.