1. Ông Nghiêm Quốc Hưng sinh năm 1955, thường trú tại Hà Nội hỏi:
Tôi nhập ngũ năm 1973 vào thẳng chiến trường B thuộc Cục Chính trị - Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Trường Sơn, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đến năm 1980, lại được điều về Quân khu 2 - Quân khu Tây Bắc trong thời gian bảo vệ biên giới phía Bắc. Sau đó vì giảm biên chế Quân đội, tôi được đi lao động xuất khẩu tại Cộng hòa dân chủ Đức năm 1989, năm 1992 tôi về nước. Tôi ra quân, nhận quyết định chỉ được gần 18 năm quân ngũ nên tôi không được hưởng lương hưu mà chỉ được trợ cấp theo Nghị định số 142 của Chính phủ. Hiện nay số tiền trợ cấp tôi nhận được là: 2.285.000 đồng/tháng. Trường hợp như tôi bị thiệt thòi, do không đủ 20 năm công tác trong Quân đội nên không được hưởng lương hưu (tôi là Quân nhân chuyên nghiệp lương bậc 5 - ngành nghệ thuật). Với số trợ cấp hàng tháng như vậy, tôi không thể đủ sống. Nay tôi hơn 70 tuổi, không làm được gì lại càng khó khăn. Trong suốt những năm tháng quân ngũ, tôi hoàn toàn thuộc quân số chiến trường (B và biên giới phía Bắc). Tại sao không được cộng thêm hệ số thời gian? Đề nghị quý cơ quan cho tôi hỏi: Tôi có thể đóng bảo hiểm thêm 02 năm để đủ 20 năm thì có được lương hưu ko?
Trả lời:
Theo quy định tại Nghị định số 159/2006/NĐ-CP, ngày 28/12/2006 của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ ngày 30/4/1975 trở về trước có từ 20 năm trở lên phục vụ Quân đội đã phục viên, xuất ngũ; Nghị định số 11/2011/NĐ-CP, ngày 30/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2006/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn thực hiện để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng thì đối tượng theo quy định phải có 20 năm (năm thực tế công tác) trở lên phục vụ Quân đội đã phục viên, xuất ngũ, hiện không thuộc diện đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng. Lương hưu hàng tháng được tính theo số năm thực tế công tác (được coi là đã đóng bảo hiểm xã hội).
Theo quy định tại Nghị định nêu trên và các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành không quy định việc quy đổi thời gian công tác ở chiến trường hoặc đóng bổ sung bảo hiểm xã hội như ông đề nghị để làm căn cứ tính hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.
2. Ông Phùng Văn Mùi thường trú tại Nghệ An hỏi:
Tôi là hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam, nguyên Thượng úy Quân đội, chuyển ngành về Huyện ủy Con Cuông, Nghệ An tháng 12/1985. Tháng 9/2015 tôi được nghỉ hưu theo chế độ. Điều tôi băn khoăn là trong quyết định nghỉ hưu do bà Lê Thị Dung, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Nghệ An ký có ghi rõ thời gian công tác trong lực lượng vũ trang là 11 năm (từ tháng 01/1975 đến tháng 9/1980; cấp bậc: Thượng sĩ; đơn vị d9/e132/Bộ Tư lệnh Thông tin. Từ tháng 10/1980 đến tháng 12/1985 cấp bậc: Thượng úy; đơn vị: d35/e138/Bộ Tư lệnh Thông tin). Như vậy thời gian phục vụ trong Quân đội của tôi là tròn 11 năm, nhưng trong tính phụ cấp thâm niên lương hưu Quân đội của tôi chỉ tính 10%, thiếu 01%. Tôi tự tìm hiểu trong Thông tư số 224/2017 của Bộ Quốc phòng thì cách tính thâm niên của tôi vẫn là 11%, tôi có trao đổi với Bảo hiểm xã hội huyện Con Cuông thì cán bộ phụ trách chế độ chính sách cho biết đã tính toán đúng nhưng về Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An cắt của tôi 01% (còn 10%) và cho biết cách tính thâm niên từ tháng 01/1975 đến tháng 12/1980 là tròn 05 năm được tính 05%; sang năm thứ 6 bắt đầu tính từ tháng 01/1981 đến tháng 12/1985, có một năm tôi chỉ được tính 11 tháng và bị cắt mất 01%, tôi có hỏi cách tính đó theo hướng dẫn văn bản nào thì được cơ quan chức năng trả lời theo cách tính của ngành Bảo hiểm xã hội.
Vậy tôi kính nhờ quý cơ quan Cục Chính sách Quân đội cho tôi biết cách tính và trách nhiệm của cơ quan nào?
Trả lời:
Tại thời điểm Ông nghỉ hưu (tháng 9/2015) chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với một số đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2015/TT-BQP, ngày 02/3/2015. Tại khoản 2, Điều 2 và tại điểm a, khoản 3, Điều 4 Thông tư này quy định:
Chế độ phụ cấp thâm niên nghề quy định tại Thông tư số 08/2015/TT-BQP, ngày 02/3/2015 của Bộ Quốc phòng được áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp; người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu hưởng lương cấp hàm cơ yếu hoặc chuyên môn kỹ thuật; công nhân viên quốc phòng đã và đang được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành: hải quan, tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm, kiểm tra đảng, nhà giáo và dự trữ quốc gia. Đối tượng nêu trên sau 05 năm (đủ 60 tháng) được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 05%, từ năm thứ 6 trở đi, mỗi năm công tác (đủ 12 tháng tính thêm 01%).
Theo quy định, việc tính thâm niên đối với quân nhân chuyển ngành sau đó nghỉ hưu thuộc trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội địa phương nơi giải quyết chế độ hưu trí đối với các đối tượng./.
Cục Chính sách - Xã hội
