Chăm lo xây dựng, củng cố quốc phòng là yêu cầu khách quan, tất yếu của mọi quốc gia có chủ quyền. Đối với Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại không chỉ là đòi hỏi từ thực tiễn mà còn là chủ trương chiến lược nhất quán, xuyên suốt của Đảng. Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo, các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống đan xen, gia tăng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn, chủ trương này tiếp tục được Đại hội lần thứ XIV của Đảng kế thừa, phát triển lên tầm cao mới.
Vậy quá trình phát triển tư duy lý luận, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là gì? Vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại trong kỷ nguyên mới ra sao? Để làm rõ nội dung, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử trân trọng giới thiệu tới bạn đọc chùm bài viết về chủ đề này của nhóm tác giả: Minh Đạt - Mạnh Hà - Phạm Cường.
I. Sự phát triển tư duy lý luận và quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại
Để phòng bị, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, các quốc gia đều chăm lo đầu tư cho quốc phòng. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo hiện nay, điều đó càng trở nên quan trọng, cấp thiết. Đương nhiên, Việt Nam không phải là ngoại lệ, cũng nằm trong bối cảnh chung ấy. Hơn thế, đó còn là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, đã được khẳng định trong các văn kiện tại các kỳ Đại hội Đảng.
![]() |
| Nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân. Ảnh minh họa |
Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân
Nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Đặc trưng đó thể hiện bản chất, bản sắc riêng và cơ chế vận hành, xây dựng nền quốc phòng với ba chủ thể: Đảng - Nhà nước - Nhân dân; trong đó mỗi chủ thể có vai trò, trách nhiệm riêng, nhưng thống nhất trong mục tiêu chung.Mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nhằm tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ, không nhằm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc can thiệp, xâm lược bất cứ quốc gia nào; nhất quán với quan điểm “bốn không”1 của Đảng và Nhà nước ta được khẳng định trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019.
Tiềm lực của nền quốc phòng Việt Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực; trong đó nội lực giữ vai trò quyết định, ngoại lực là quan trọng. Nguồn nội lực được xây dựng và không ngừng củng cố toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội,… tạo nền tảng vững chắc cho sức mạnh quốc phòng. Nguồn ngoại lực được khai thác, phát huy hiệu quả thông qua đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập, hợp tác quốc tế sâu rộng, nhất là hợp tác quốc phòng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và vị thế ngày càng nâng cao của đất nước, dư địa nguồn ngoại lực tiếp tục được mở rộng và trở thành yếu tố quan trọng bổ trợ cho nội lực. Sức mạnh quốc phòng gồm “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”2, hợp thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trong đó cốt lõi, bao trùm là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Nội hàm của sức mạnh quốc phòng rất rộng, trong đó cốt lõi là sức mạnh quân sự được cấu thành bởi tư tưởng, đường lối quân sự, chiến lược quân sự, nghệ thuật quân sự, lực lượng và thế trận quân sự với những nội dung cụ thể như: tổ chức quân sự, lực lượng vũ trang, thế trận quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật, hệ thống phương án, kế hoạch tác chiến, v.v. Sức mạnh quân sự là nhân tố trực tiếp quyết định giành thắng lợi trên chiến trường, gắn bó chặt chẽ với các nhân tố chính trị - tinh thần, kinh tế, ngoại giao,... tạo nên sức mạnh tổng hợp quyết định thắng lợi chiến tranh. Do đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân thì vấn đề quan trọng nhất là xây dựng sức mạnh quốc phòng, trọng tâm, then chốt là không ngừng củng cố, phát triển sức mạnh quân sự.
Từ thực tiễn, có thể khẳng định: Nền quốc phòng toàn dân của nước ta được xây dựng thường xuyên, liên tục cả trong chiến tranh và hòa bình, có sự kế thừa, bổ sung phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Trong chiến tranh giải phóng, nền quốc phòng toàn dân được xây dựng nhằm phục vụ trực tiếp nhiệm vụ hàng đầu là đánh bại quân xâm lược, giành độc lập dân tộc. Trong thời bình, nền quốc phòng toàn dân được xây dựng toàn diện, hướng vào phòng ngừa, xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, nhất là những thách thức phức tạp, bất trắc ở tầm vĩ mô để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển đất nước.
Vậy nên, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới là nhằm chủ động phòng bị đất nước, ngăn ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; triệt tiêu các nhân tố có thể dẫn đến bất ổn định; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của địch dưới mọi quy mô, hình thức khi các biện pháp hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh không còn phát huy hiệu quả.
Nhìn lại các kỳ Đại hội Đảng, quan điểm về xây dựng nền quốc phòng toàn dân không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn cách mạng. Từ sau khi đất nước thống nhất, Đảng ta xác định xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nhiệm vụ chiến lược nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, tư duy về quốc phòng tiếp tục được phát triển theo hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị, kết hợp quốc phòng, an ninh với đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trước những biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo của tình hình khu vực và thế giới, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có bước phát triển đột phá về nhận thức, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, nhất là quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; “xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân”3.
Như vậy, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân luôn nhất quán trong phương châm, mục tiêu và có sự phát triển về nội hàm, nhằm không ngừng tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng; nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, thực sự là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
![]() |
| Khối nam Dân quân tự vệ tại Lễ diễu binh, diễu hành chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh, sáng 02/9/2025. Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Quan điểm Đại hội XIV của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “...xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới”4. Đó vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu xuyên suốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay. Sự vững mạnh của nền quốc phòng phải được thể hiện toàn diện cả về chiều rộng và chiều sâu trên từng khu vực, địa bàn và phạm vi cả nước, đặc biệt là các khu vực, địa bàn chiến lược trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Sự vững mạnh đó còn phải đảm bảo tính toàn diện chứ không chỉ ở một mặt hoặc một nội dung nào. Ngoài nội dung quốc phòng còn có những nội dung liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến quốc phòng.
Việc đảm bảo tính hiện đại của nền quốc phòng toàn dân là vấn đề mới. Đặt ra yêu cầu đó là cần thiết và phù hợp với khả năng, tiềm lực của đất nước và mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong quá trình xây dựng nền quốc phòng, cần chú trọng hai nội dung trọng tâm là: xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh và thế trận quốc phòng ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Theo quan điểm của Đảng, lực lượng quốc phòng là toàn dân, toàn dân tham gia sự nghiệp quốc phòng và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân giữ vai trò nòng cốt. Tương tự như vậy, thế trận quốc phòng là thế trận quốc phòng toàn dân, được tổ chức thống nhất từ phòng thủ quân khu đến khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), xã (phường, đặc khu); được xây dựng vững chắc ngay từ trong thời bình và không ngừng bổ sung, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Khi có chiến tranh, thế trận đó được chuyển hóa kịp thời thành thế trận chiến tranh nhân dân. Việc chuyển hóa thế trận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được chủ động tiến hành từ trước và trong suốt quá trình chiến tranh nhất là trong giai đoạn đầu. Trọng tâm của chuyển hóa thế trận là điều chỉnh, hoàn thiện phương án, kế hoạch tác chiến và các kế hoạch bảo đảm tác chiến (hậu cần - kỹ thuật, thông tin liên lạc,…); đồng thời, củng cố, xây dựng hệ thống công trình phòng thủ, công sự chiến đấu đáp ứng yêu cầu tác chiến ở các cấp.
Như vậy, có thể thấy xây dựng và chuyển hóa thế trận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thực chất là chuyển hóa các yếu tố phục vụ yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng từ trạng thái thời bình sang trạng thái phục vụ yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến khi có chiến tranh. Tất nhiên, cùng với việc xây dựng, chuyển hoá thế trận còn phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung khác, trong đó quan trọng là tiến hành tổ chức, động viên lực lượng dự bị cả về con người và cơ sở vật chất, kỹ thuật, bổ sung, tăng cường cho lực lượng thường trực,... đáp ứng yêu cầu chiến tranh.
Cùng với đó, nền quốc phòng toàn dân phải được xây dựng hiện đại về nguồn lực; trong đó, con người hiện đại là nhân tố quyết định. Trọng tâm là xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ giỏi về kỹ thuật, chiến thuật mà còn có tư duy hệ thống và làm chủ được khoa học, công nghệ và vũ khí, trang bị công nghệ cao. Quân đội nhân dân phải được xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh” có cơ cấu hợp lý, tổ chức linh hoạt, chỉ huy hiện đại, thích ứng với các hình thái chiến tranh mới, như: chiến tranh mạng, chiến tranh phi tiếp xúc, v.v. Đồng thời, nền quốc phòng phải bảo đảm tính tự chủ, tự lực, tự cường về vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí chiến lược. Trọng tâm đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), các thiết bị bay không người lái (UAV), tác chiến điện tử và thông tin liên lạc vệ tinh,... tạo ra bước chuyển về chất trong xây dựng tiềm lực, sức mạnh quốc phòng để răn đe và bảo vệ chủ quyền. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, chúng ta cần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, phát triển theo hướng lưỡng dụng, gắn kết chặt chẽ với công nghiệp quốc gia; qua đó, phát huy tối đa tiềm lực khoa học, công nghệ phục vụ hiệu quả cả nhiệm vụ quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đồng thời, nền quốc phòng hiện đại phải có nghệ thuật quân sự và quản trị hiện đại, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, chỉ huy, điều hành. Thế trận quốc phòng toàn dân được số hóa, đảm bảo kết nối liên thông, đồng bộ giữa các vùng chiến lược, giữa quốc phòng với an ninh và các bộ, ngành, tạo nên khả năng chỉ huy, hiệp đồng linh hoạt, hiệu quả. Nghệ thuật tác chiến cũng phải không ngừng phát triển, mở rộng từ các môi trường truyền thống sang không gian mạng và không gian vũ trụ, hình thành phương thức tác chiến đa miền. Nói cách khác, nền quốc phòng “hiện đại” không đơn thuần là có vũ khí mới, mà là một hệ sinh thái quốc phòng thông minh, tích hợp giữa con người, tổ chức, công nghệ và thế trận; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và tận dụng hiệu quả thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Đó là, kết hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân nhân, gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây là quan điểm cơ bản của Đảng xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của quan điểm là nhằm đảm bảo cho đất nước “trong ấm, ngoài êm”, chống giặc ngoài. Muốn thế, xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải gắn với nền an ninh nhân dân. Đó là hai mặt của một vấn đề. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại nhằm ứng phó với các tình huống bất trắc từ bên ngoài; tương tự như vậy, xây dựng nền an ninh nhân dân vững chắc là để đảm bảo sự ổn định từ bên trong, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước.
Quốc phòng và an ninh có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự kết hợp đó được thể hiện cả trong xây dựng của mỗi lĩnh vực và trong từng chiến lược. Phối hợp hoạt động giữa hai bên được thực hiện theo chức năng và kế hoạch đã thống nhất để xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh cũng như tham mưu với Đảng, Nhà nước không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Trọng tâm của sự kết hợp quốc phòng với an ninh là kết hợp xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên từng khu vực và cả nước, nhất là những địa bàn chiến lược, trọng điểm. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân là sự nghiệp của toàn dân, do toàn dân thực hiện, cho nên trong quá trình xây dựng phải chú trọng gắn kết với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực chất là củng cố lòng tin của Nhân dân đối với chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.
Thực tiễn lịch sử dân tộc đã cho ta bài học về vai trò và sức mạnh lòng dân, “dân là gốc”, “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “chúng chí thành thành”, “lòng dân là bức tường thành vững chắc nhất”, thế trận vững chắc nhất mà không một thế lực thù địch nào có thể phá nổi. Bài học quý về “thế trận lòng dân” đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, luôn được Đảng ta coi trọng thực hiện bằng những chủ trương, chính sách hợp lòng dân, mang lại lợi ích thiết thực, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Vì thế, “thế trận lòng dân” luôn được đảm bảo vững chắc ngay từ cơ sở, tạo nền tảng cho sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Đó còn là quan điểm coi trọng kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh và đối ngoại. Đây là ba lĩnh vực chủ yếu liên quan trực tiếp đến hai nhiệm vụ chiến lược, nhất là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ba lĩnh vực này có mối quan hệ mật thiết, tác động, thúc đẩy lẫn nhau, vì thế cần có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các lĩnh vực để tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, đây là yêu cầu không thể thiếu của quá trình xây dựng và hoạt động nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Quan điểm này của Đảng tuy không hoàn toàn mới, vì đã được quán triệt, chỉ đạo thực hiện trong những nhiệm kỳ qua. Nhưng cũng lại rất mới, thể hiện tư duy nhạy bén của Đảng là nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế trong mối quan hệ này, cũng như trong bối cảnh phức tạp, nhiều biến động của tình hình thế giới hiện nay. Vì thế, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “...tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”5.
Sự kết hợp quốc phòng với an ninh và đối ngoại cần được thực hiện trong thực tiễn xây dựng và hoạt động của từng lĩnh vực cũng như trong suốt tiến trình hội nhập, phát triển đất nước. Thông qua sự kết hợp đó thúc đẩy hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả; đồng thời qua hội nhập quốc tế lại tác động trở lại làm cho quốc phòng, an ninh, thu hút nguồn lực đầu tư từ bên ngoài chủ động và tích cực hơn. Kết hợp quốc phòng với an ninh và đối ngoại cần được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên, nhưng trước hết và quan trọng là trong nghiên cứu, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, trong nước để chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự từ sớm, từ xa; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố và ứng phó kịp thời, hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Quán triệt và thực hiện nghiên túc quan điểm chỉ đạo của Đảng là vấn đề quan trọng hàng đầu để thiết thực góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong kỷ nguyên mới đang có nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng đan xen không ít khó khăn, thách thức, trong đó có những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Vậy đó là những vấn đề gì? Sự tác động của nó đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân như thế nào? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong bài sau.
Tiếp theo: II. Bước phát triển vững chắc của nền quốc phòng toàn dân và vấn đề đặt ra hiện nay
1 - Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
2 - “Sức mạnh cứng” là sức mạnh vật chất, kỹ thuật, trang bị, vũ khí,… được huy động phục vụ quốc phòng; “sức mạnh mềm” là sức mạnh chính trị - tinh thần truyền thống đánh giặc, lòng yêu nước, niềm tự tôn, tự hào dân tộc, v.v.
3 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021. tr. 157.
4 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 115.
5 - Sđd, tr. 82.






