Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân là sự kết tinh truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, một trong những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; “tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc”1.
![]() |
| Dân công hỏa tuyến vận chuyển hàng hóa trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu |
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định: “Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại”2. Để hiện thực hóa những định hướng chiến lược đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân không chỉ là sự tiếp nối truyền thống, mà còn là cơ sở quan trọng để tạo dựng tiềm lực và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về xây dựng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Những tư tưởng đó không chỉ soi đường cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây mà còn tiếp tục là nền tảng tư tưởng, định hướng quan trọng cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới. Thực tiễn cho thấy, nhiều chủ trương, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân (tính chất, lực lượng, tiềm lực, thế trận,... của nền quốc phòng toàn dân) hiện nay đều là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Phạm vi bài viết, tập trung làm rõ thêm một số nội dung, góp phần nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đó trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.
Thứ nhất, xây dựng nền quốc phòng toàn dân từ sức mạnh của Nhân dân. Đây là luận điểm cách mạng, khoa học xuyên suốt trong tư tưởng của Người về xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trên cơ sở xác định rõ vai trò của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng, với tư tưởng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”3, ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã khẳng định: “nước ta mới tranh lại quyền độc lập tự do, nhưng còn phải qua nhiều bước khó khăn, để củng cố quyền tự do độc lập đó. Vậy nên quốc dân ta, bất kỳ già trẻ, đều phải ra sức gánh một vai”4. Quan điểm đó thể hiện rõ tư tưởng quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; trong đó, Nhân dân vừa là chủ thể xây dựng, vừa là nguồn sức mạnh quyết định của nền quốc phòng; sức mạnh thực sự của quốc phòng bắt nguồn từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của mỗi người dân. Tư tưởng là sự kế thừa sâu sắc truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc với quan điểm “trăm họ là binh”, “cả nước chung sức đánh giặc”. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người nêu rõ: “phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân…”5.
![]() |
| Cán bộ, chiến sĩ Đặc công được đặc biệt rèn luyện về bản lĩnh chính trị. Nguồn: qdnd.vn |
Hiện nay, trong điều kiện chiến tranh hiện đại, đối phương có thể sử dụng các biện pháp phi quân sự, chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, chiến tranh mạng nhằm phá hoại niềm tin xã hội, gây rối loạn từ bên trong. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại trước hết phải bắt đầu từ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Vận dụng tư tưởng của Bác, cần tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo; giải quyết hài hòa lợi ích giữa các vùng, miền, tầng lớp để củng cố sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, quán triệt và thực hiện đúng quan điểm “Dân là gốc” mà Đại hội XIV của Đảng xác định; thực hiện triệt để lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”6. Khi lòng dân yên, niềm tin vững, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, đó chính là “pháo đài” bền vững nhất của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.
Thứ hai, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “người trước, súng sau”, vì vậy Người chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”7. Theo Người, sức mạnh của quân đội trước hết bắt nguồn từ bản chất cách mạng, từ mục tiêu chiến đấu vì Nhân dân, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội, hòng tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, là nòng cốt trong nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao bản lĩnh chính trị, khả năng “tự đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Không chỉ xây dựng Quân đội hiện đại về vũ khí, trang bị mà trước hết phải hiện đại về tư duy, trình độ tổ chức, phương pháp tác chiến và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ quân sự mới.
Thứ ba, xây dựng nền quốc phòng toàn dân độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của nội lực dân tộc và khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”8. Quan điểm đó phản ánh tư duy nhất quán của Người về xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mình là chính, lấy nội lực quốc gia làm nhân tố quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Theo Người, độc lập, tự chủ không có nghĩa là khép kín, biệt lập với thế giới, mà phải biết tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và những thành tựu tiến bộ của thời đại để tăng cường tiềm lực quốc phòng; song, mọi sự hợp tác đều phải bảo đảm nguyên tắc không lệ thuộc, không đánh đổi độc lập, chủ quyền quốc gia.
![]() |
| Tàu ngầm Kilo 636 rời bến làm nhiệm vụ. Nguồn: chinhphu.vn |
Vận dụng tư tưởng đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại phải gắn với mở rộng và nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, đúng như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”9.
Thứ tư, toàn dân đánh giặc, toàn diện đánh giặc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”10. Đó không chỉ là lời hiệu triệu trong kháng chiến mà còn là sự khái quát sâu sắc quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam: sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không bắt nguồn từ một lực lượng riêng lẻ mà được tạo nên từ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển truyền thống “cả nước chung sức đánh giặc” thành đường lối chiến tranh nhân dân mang tính toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ và giàu giá trị thời đại.
Trong điều kiện các hình thái chiến tranh mới phát triển mạnh, ranh giới giữa thời bình và thời chiến ngày càng đan xen, xây dựng nền quốc phòng toàn dân không thể chỉ giới hạn ở xây dựng lực lượng vũ trang mà phải đồng thời củng cố tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, an ninh và đối ngoại; gắn chặt quốc phòng với phát triển đất nước, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây cũng chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và năng lực tự chủ chiến lược của đất nước.
Thứ năm, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác”11, đồng thời nhấn mạnh phải “củng cố lực lượng quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an”12. Theo Người, giữ nước không chỉ là nhiệm vụ khi chiến tranh xảy ra mà phải được chuẩn bị từ thời bình, chủ động phòng ngừa mọi nguy cơ đe dọa đến độc lập, chủ quyền và ổn định của đất nước. Đó là tư duy chiến lược sâu sắc về bảo vệ Tổ quốc “từ khi nước chưa nguy”, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ngày nay, vận dụng tư tưởng đó đòi hỏi phải chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời nhận diện và xử lý hiệu quả các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại phải gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc, tạo cơ sở để bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại hiện nay không chỉ là yêu cầu về nhận thức lý luận mà còn là nhiệm vụ chính trị trực tiếp nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Thượng tá, TS. VŨ TRƯỜNG GIANG, Chủ nhiệm bộ môn, Khoa Sư phạm quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị
____________________
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. tr. 114.
2 - Tổng cục Chính trị – Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nxb QĐND, H. 2025, tr. 46.
3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 453.
4 - Sđd, Tập 4, tr. 23.
5 - Sđd, Tập 3, tr. 539.
6 - Sđd, tập 4, tr. 51.
7 - Sđd, Tập 7, tr. 217.
8 - Sđd, tr. 445.
9 - Sđd, Tập 4, tr. 147.
10 - Sđd, tr. 534.
11 - Sđd, Tập 1, tr. 389.
12 - Sđd, Tập 14, tr. 285.



