Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung này tiếp tục được Đại hội XIV của Đảng khẳng định và bổ sung với nhiều điểm mới, cần quán triệt, nhận thức sâu sắc để hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể.
Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về quyền con người
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong 40 năm đổi mới, tư duy lý luận về quyền con người luôn được Đảng ta xác định rất rõ, từng bước bổ sung, phát triển ngày càng thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Đảng, Nhà nước ta yêu cầu “các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định”1 và “Nhà nước phải đảm bảo quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”2. Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục xác định rõ hơn, khi khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”3. Với cách tiếp cận đó, Đảng và Nhà nước ta từng bước hoàn thiện phương thức bảo đảm quyền con người; trong đó, nhấn mạnh vai trò của Nhà nước pháp quyền trong hiện thực hóa quan điểm: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”4 của Đảng.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển tư duy lý luận về quyền con người, gắn với sự nghiệp đổi mới đất nước, khi nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”5. Đó là bước phát triển trong cách tiếp cận con người, từ chỗ chủ yếu được nhìn nhận là đối tượng thụ hưởng sang đề cao vai trò chủ thể trong quá trình phát triển.
![]() |
| Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và bổ sung nhiều điểm mới về quyền con người. Nguồn: TTXVN |
Nhất quán với quan điểm đó, cùng với chú trọng bảo đảm các quyền cụ thể, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định rõ hơn vị trí trung tâm của con người và quyền con người trong quá trình phát triển đất nước: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”6.
Trên nền tảng đó, quyền con người được tiếp cận theo hướng toàn diện hơn, gắn với các điều kiện phát triển, các thách thức phi truyền thống và yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn con người. Trong bối cảnh thế giới xuất hiện nhiều rủi ro và vấn đề mới, việc bảo đảm quyền con người ngày càng gắn chặt với an ninh con người, phát triển bền vững và năng lực ứng phó với các thách thức mới.
Nội hàm quyền con người được mở rộng theo hướng gắn với các động lực phát triển mới, đặc biệt là khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nhấn mạnh yêu cầu: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia để tạo bứt phá…”7. Điều này cho thấy, quyền con người không chỉ gắn với việc được bảo vệ, bảo đảm, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng tiếp cận, thụ hưởng, tham gia vào các thành tựu của tiến bộ khoa học và công nghệ. Đó còn hàm ý, các quyền mới xuất hiện ngày càng rõ nét trong không gian số, như: quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận công nghệ và quyền không bị loại trừ trong quá trình chuyển đổi số, v.v.
Đại hội XIV đặt quyền con người trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển bền vững, thông qua việc nhấn mạnh các yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó, quyền con người không chỉ là mục tiêu của phát triển, mà còn trở thành tiêu chí cốt lõi của quá trình phát triển. Điều đó khẳng định, nhận thức lý luận về quyền con người của Đảng ta đã được mở rộng theo hướng tích hợp, liên ngành, gắn kết chặt chẽ giữa quyền con người với các mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia.
Như vậy, Đại hội XIV đã có bước phát triển quan trọng trong lý luận về quyền con người, từ cách tiếp cận mang tính bảo đảm quyền, sang cách tiếp cận toàn diện hơn, gắn với an ninh con người, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Vai trò chủ thể của con người và quyền con người trong phát triển
Trong quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, quan điểm về con người với tư cách vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của phát triển được hình thành và hoàn thiện qua các giai đoạn khác nhau. Sự phát triển nhất quán đó cho thấy bước chuyển từ cách tiếp cận coi con người chủ yếu là đối tượng thụ hưởng, sang đề cao vai trò chủ thể của con người; trong đó, quyền con người gắn chặt với quyền làm chủ của Nhân dân và trở thành vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển đất nước.
Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ hơn vai trò của con người và Nhân dân khi “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”8; đồng thời yêu cầu: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”9. Như vậy, con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng các chính sách, mà còn là chủ thể kiến tạo phát triển, trực tiếp tham gia và quyết định quá trình phát triển đất nước.
Trên nền tảng đề cao vai trò chủ thể của Nhân dân, quan điểm của Đảng ta thể hiện rõ xu hướng chuyển từ bảo đảm quyền theo nghĩa truyền thống sang tiếp cận trao quyền. Thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong thực tiễn khi: “Thực hành dân chủ ở cơ sở còn hình thức, quyền làm chủ của Nhân dân chưa hoàn toàn được tôn trọng và phát huy”10. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2026 tại bản Lóng Luông, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Nguồn: TTXVN |
Đây là bước phát triển trong nhận thức và cách tiếp cận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, bởi quyền con người không chỉ dừng lại ở việc được ghi nhận về mặt pháp lý hay được bảo vệ bởi Nhà nước, mà còn đòi hỏi phải tạo điều kiện để các chủ thể có khả năng thực thi quyền một cách thực chất. Từ góc độ này, có thể thấy, quan điểm của Đảng ta không chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh nghĩa vụ của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, mà đã tiến thêm một bước khi đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực chủ thể của người dân; qua đó, đưa quyền con người từ một giá trị cần được bảo vệ thành một nguồn lực phát triển. Đây chính là biểu hiện của sự hội tụ giữa tư duy của Đảng với các xu hướng lý luận hiện đại về quyền con người; trong đó, con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia, đồng thời kiến tạo và kiểm soát quá trình phát triển.
Một điểm mới nổi bật là việc gắn quyền con người với các động lực phát triển mới, đặc biệt là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đại hội XIV khẳng định “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính… nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài”11; đồng thời xác định “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”12. Những nội dung này cho thấy, quyền con người không chỉ được tiếp cận như một giá trị cần được bảo đảm, mà còn được nhìn nhận là một nguồn lực phát triển; trong đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là động lực nội sinh quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, mối quan hệ giữa quyền con người và phát triển càng trở nên chặt chẽ. Các quyền, như: tiếp cận giáo dục, tiếp cận thông tin, tham gia vào đời sống khoa học, công nghệ,… không chỉ là quyền cơ bản, mà còn là điều kiện để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nâng cao vai trò của Nhà nước và quản trị quốc gia trong bảo đảm quyền con người
Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm quyền con người gắn liền với yêu cầu “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”13. Quyền con người không chỉ là mục tiêu hướng tới của Nhà nước, mà còn trở thành chuẩn mực đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và chất lượng quản trị quốc gia.
Đại hội XIV nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người thông qua nâng cao năng lực quản trị quốc gia, yêu cầu phải: “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực”14. Trên thực tế, các “điểm nghẽn” về thể chế, chính sách và tổ chức thực thi chính là những rào cản làm hạn chế khả năng tiếp cận và thụ hưởng quyền của người dân, đặc biệt trong các lĩnh vực như: đất đai, lao động, an sinh xã hội và tiếp cận dịch vụ công. Khi các cơ chế pháp lý còn chồng chéo, thiếu minh bạch hoặc kém hiệu quả, quyền con người dù được ghi nhận cũng khó được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn. Do đó, việc giải quyết các “điểm nghẽn” về thể chế không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản lý nhà nước, mà còn là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa quyền con người trong thực tiễn, bảo đảm quyền được tiếp cận công bằng các nguồn lực phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong bối cảnh mới.
Các nội dung về quyền con người trong văn kiện Đại hội XIV có ý nghĩa quan trọng trong việc định hình cách tiếp cận phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc đặt quyền con người trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển, quản trị quốc gia và các động lực tăng trưởng cho thấy quyền con người ngày càng trở thành nền tảng và định hướng cho việc hoạch định và thực thi chính sách. Qua đó, góp phần bảo đảm sự phát triển bao trùm, nâng cao chất lượng quản trị và phát huy hiệu quả nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong bối cảnh mới.
TS. CHU THỊ THÚY HẰNG, Phó Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
_______________________
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 794.
2 - Sđd, tr. 800.
3 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 76.
4 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 169.
5 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 27 - 28.
6 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb CTQGST, tr. 382.
7 - Sđd, tr. 274.
8 - Sđd, tr. 103.
9 - Sđd, tr. 373.
10 - Sđd, tr. 182 - 183.
11 - Sđd, tr. 373.
12 - Sđd, tr. 373.
13 - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Các văn kiện của Đảng, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, H. 2023, tr. 144.
14 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb CTQGST, tr. 373.






