Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo không chỉ tạo nên những kỳ tích lịch sử về kinh tế - xã hội, mà còn là một quá trình vận động, phát triển vượt bậc về tư duy lý luận. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới là sự đúc kết biện chứng giữa tính kiên định về nguyên tắc và năng lực sáng tạo không ngừng trước những đòi hỏi khách quan của thực tiễn. Thành tựu ấy vừa có giá trị định hướng, dẫn dắt lâu dài cho cách mạng Việt Nam, vừa mang tầm vóc lịch sử sâu sắc. Để góp phần làm rõ hơn vấn đề trên, Tạp chí Quốc phòng toàn dân trân trọng giới thiệu loạt 03 bài viết của nhóm tác giả: Phạm Tuấn - Minh Đức - Đình Bằng - Gia Đồng.
I. Đổi mới - bước ngoặt tư duy góp phần làm nên tầm vóc của Đảng
Đại hội VI của Đảng (12/1986) đã đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam như một mốc son chói lọi. Bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần tự phê bình sâu sắc và năng lực sáng tạo vượt bậc, Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để khởi xướng công cuộc đổi mới.
Chặng đường 40 năm qua là một hành trình liên tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khẳng định tầm vóc của một Đảng kiến tạo và dẫn dắt dân tộc trong thời đại mới.
![]() |
| Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986). Nguồn: TTXVN |
“Nhìn thẳng vào sự thật” - khởi nguồn cho bước ngoặt lịch sử
Mọi chuyển động mang tính bước ngoặt của lịch sử đều khởi nguồn từ sự thay đổi trong tư duy lý luận. Đối với cách mạng Việt Nam, công cuộc đổi mới được khởi xướng tại Đại hội VI của Đảng là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, định hình lại toàn bộ mô hình phát triển của đất nước. Đây không phải là một giải pháp tình thế, cục bộ nhằm tháo gỡ những ách tắc nhất thời về mặt kinh tế, mà là kết quả của một quá trình đấu tranh tư tưởng gay gắt, một bước nhảy vọt về chất trong năng lực nhận thức quy luật khách quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tầm vóc của một Đảng cầm quyền chân chính được khẳng định mạnh mẽ nhất khi đứng trước những thời khắc sinh tử, nơi bản lĩnh chính trị và trí tuệ khoa học trở thành nhân tố quyết định sự tồn vong của chế độ.
Nhìn lại bối cảnh những năm trước đổi mới, kinh tế - xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, kéo dài. Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng được phản ánh rõ nét qua tỉ lệ lạm phát phi mã lên tới 774,7% (thời điểm tháng 12/1986). Đời sống Nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, hàng hóa khan hiếm, sản xuất đình đốn, lòng tin của quần chúng Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đứng trước thử thách nghiêm trọng.
Nguyên nhân của tình trạng đó là do, đất nước vừa bước ra khỏi những cuộc chiến tranh khốc liệt, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ biên giới; đồng thời phải đối mặt với sự bao vây, cấm vận ngặt nghèo của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến sự trì trệ lại bắt nguồn từ nội tại của mô hình cũ. Nhận thức lý luận còn mang tính giáo điều, rập khuôn, cùng với bệnh chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Trước bối cảnh hiểm nghèo ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng; một thái độ khoa học, cùng với sự tự phê bình dũng cảm của một Đảng cách mạng chân chính, quyết tâm đoạn tuyệt với tư duy cũ kỹ, lỗi thời. Với tinh thần: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng công khai thừa nhận những sai lầm trong chỉ đạo kinh tế, nhận diện rõ sự lạc hậu của lực lượng sản xuất và sự bất cập của quan hệ sản xuất đương thời. Sự dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật tại Đại hội VI đã đặt nền móng cho bước ngoặt tư duy, khẳng định rằng: muốn cứu vãn nền kinh tế và giữ vững thành quả cách mạng, con đường duy nhất là phải đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy lý luận.
Đột phá lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Sự thay đổi căn bản và mang tính chất bản lề trong tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội VI là việc định hình lại nhận thức về kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Trước đó, trong suốt một thời gian dài, tư duy chính thống luôn đồng nhất kinh tế thị trường, quan hệ hàng hóa - tiền tệ với chủ nghĩa tư bản, đồng thời coi kế hoạch hóa tập trung tuyệt đối là đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội. Bước đột phá lý luận quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là việc khẳng định: kinh tế thị trường là sản phẩm chung của văn minh nhân loại, là phương thức, phương tiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ, là động lực giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
Từ bước ngoặt tư duy này, Đảng đã từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một mô hình kinh tế hoàn toàn mới trong lịch sử kinh tế thế giới, chưa có tiền lệ, kết hợp hài hòa giữa tính quy luật chung của kinh tế thị trường và tính định hướng chính trị của chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế này vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của thị trường, như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,... đồng thời chịu sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Mục tiêu tồn tại và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam được xác định rõ ràng: phát triển vì con người, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xóa bỏ áp bức, bất công, chứ không nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm thiểu số hay tối đa hóa lợi nhuận cho giai cấp tư sản.
Đi đôi với đổi mới tư duy về bản chất nền kinh tế là sự thay đổi mang tính cách mạng về cơ cấu các thành phần kinh tế. Đảng chủ trương chuyển sang phát triển nền kinh tế đa thành phần. Trong cơ cấu mới này, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Tư duy lý luận của Đảng khẳng định: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô mang tính định hướng của đòn bẩy chiến lược; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; đặc biệt, từ chỗ chưa được nhìn nhận đầy đủ, kinh tế tư nhân đã từng bước được xác định rõ hơn về vai trò, vị trí, “là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”1. Việc giải phóng và thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân đã khơi thông mọi nguồn lực còn tiềm ẩn trong Nhân dân, tạo ra một luồng sinh khí mới cho sức sản xuất xã hội bứt phá mạnh mẽ.
![]() |
| Ảnh minh họa sự phát triển của Việt Nam sau đổi mới. Nguồn: baochinhphu.vn |
Nhận thức rõ hơn về chặng đường và bước đi của thời kỳ quá độ
Một trong những giá trị lý luận cốt lõi, khẳng định tầm vóc tư duy của Đảng qua 40 năm đổi mới là từng bước nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về thời kỳ quá độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ chỗ nhận thức có phần chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội bằng cách xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn quan điểm duy vật biện chứng và xác định: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải trải qua nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội trung gian. Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là phủ định sạch trơn, mà bản chất là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”2.
Sự phát triển lý luận từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng năm 1991 đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã định hình rõ nét bản chất của con đường này thông qua việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “tính định hướng” và “tính quy luật”. Đảng ta khẳng định: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình vừa tuần tự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực, vừa có những bước nhảy vọt đón đầu xu thế thời đại. Con đường đó đặt con người vào trung tâm, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu tối cao, đại đoàn kết toàn dân tộc làm động lực và đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Đảng cầm quyền kiên định nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước những biến động của lịch sử, đây là sự định vị một mô hình phát triển độc lập, tự chủ và giàu tính sáng tạo.
![]() |
| Biển người với màu cờ đỏ sao vàng chờ xem màn tổng hợp luyện diễu binh, diễu hành A80 lần thứ 2. Ảnh: Văn Điệp/TTXVN |
Hoàn thiện hệ thống tư duy biện chứng qua mười mối quan hệ lớn
Sự chín muồi và tầm vóc trí tuệ của Đảng trong 40 năm đổi mới được thể hiện tập trung ở năng lực tổng kết thực tiễn, khái quát những vấn đề có tính quy luật và nhận diện những mối quan hệ lớn chi phối quá trình phát triển đất nước. Qua các kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng ngày càng mang tính hệ thống, biện chứng, từ việc chỉ ra các nhiệm vụ trọng tâm đã tiến tới khái quát thành các mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam3 đã hệ thống hóa thành mười mối quan hệ lớn, phản ánh toàn diện các quy luật vận động nội tại, các mâu thuẫn biện chứng của quá trình phát triển đất nước. Các mối quan hệ này bao gồm:
“(1) Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. (2) Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. (3) Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. (4) Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. (5) Giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. (6) Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. (7) Giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. (8) Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. (9) Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. (10) Giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”4.
Mười mối quan hệ lớn này không tồn tại biệt lập mà có sự liên hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất của đường lối đổi mới. Việc nhận thức và chỉ đạo giải quyết mười mối quan hệ lớn thể hiện tư duy biện chứng, khoa học của Đảng ta, tránh được những sai lầm cực đoan, phiến diện trong quá trình lãnh đạo xã hội. Qua các kỳ đại hội, Đảng ta xác định đổi mới kinh tế phải là trọng tâm, nhưng đổi mới chính trị phải từng bước, thận trọng, vững chắc, lấy ổn định chính trị làm tiền đề cho sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tuyệt đối không đánh đổi môi trường hay công bằng xã hội để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Việc làm chủ và vận dụng linh hoạt mười mối quan hệ lớn chính là chìa khóa giúp Việt Nam giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời giải phóng được tối đa các nguồn lực xã hội phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa.
![]() |
| Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh năm 2026. Nguồn: qdnd.vn |
Tư duy chiến lược về đối ngoại toàn diện và bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”
Tầm vóc của Đảng cầm quyền còn được khẳng định ở năng lực định vị quốc gia trong một thế giới đầy biến động và phức tạp. Đường lối đổi mới chứng kiến một bước chuyển tư duy mang tính lịch sử trong hoạt động đối ngoại và quốc phòng, an ninh. Đảng từng bước đổi mới tư duy đối ngoại, từ cách tiếp cận mang nặng tư duy đối đầu, phân tuyến sang chủ động đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết và trước hết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Việt Nam khẳng định “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”5.
Bước đột phá lý luận sắc bén của Đảng trong giai đoạn này là việc hình thành tư duy biện chứng về “đối tác” và “đối tượng”. Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; ngược lại, bất kỳ thế lực nào có hành động xâm phạm đến lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam đều là đối tượng đấu tranh. Tính chất biện chứng nằm ở chỗ, trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt tích cực cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác vẫn có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn cần phải đấu tranh, đấu tranh để hợp tác, chứ không phải để đối đầu. Tư duy này đã giải phóng ngoại giao Việt Nam khỏi những ranh giới xơ cứng, tạo không gian chiến lược rộng lớn để đất nước đan xen lợi ích với các cường quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền mà không làm tổn hại đến môi trường hòa bình ổn định.
Song hành với đối ngoại, tư duy về bảo vệ Tổ quốc cũng có sự đổi mới căn bản. Đảng xác định, chiến lược quốc phòng phải được xây dựng vững chắc trên trục tư duy bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Bảo vệ Tổ quốc không còn bó hẹp trong khái niệm phản ứng vũ trang khi có chiến tranh xâm lược, mà là tổng thể các biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tư tưởng,… nhằm triệt tiêu các mầm mống xung đột, phòng ngừa nguy cơ chiến tranh, kiểm soát các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Học giả chuyên nghiên cứu về chiến lược Đông Nam Á, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, đã nhận định rằng: “Sự phát triển kinh tế thần kỳ và chủ nghĩa ngoại giao thực tế của Việt Nam chắc chắn là điều đáng ngưỡng mộ ở Đông Nam Á. Việt Nam đã duy trì quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với cả Trung Quốc và Mỹ, cũng như với 12 quốc gia quan trọng khác, đồng thời tăng cường vai trò lãnh đạo trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)”6. Sự kết hợp giữa kiên trì nguyên tắc độc lập chủ quyền và linh hoạt trong phương sách đối ngoại đã giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tính ổn định chính trị cao nhất khu vực, là cầu nối quan trọng trong cấu trúc an ninh và kinh tế của Châu Á - Thái Bình Dương.
Sức sống trường tồn và tầm vóc lịch sử của lý luận về đường lối đổi mới
Nhìn lại 40 năm qua, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh giá trị bền vững và sức sống nội sinh mãnh liệt thông qua những đặc tính khoa học căn bản.
Trước hết, lý luận về đường lối đổi mới mang tính kiên định và kế thừa sâu sắc. Đổi mới không phải là sự thay đổi mục tiêu lý tưởng, không phải là sự ngả nghiêng theo các trào lưu tư bản chủ nghĩa hay phủ định sạch trơn quá khứ, mà là luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi sự tìm tòi, sáng tạo lý luận đều được tiến hành trên nền tảng khoa học vững chắc của phép biện chứng duy vật, lấy lợi ích của Nhân dân làm thước đo tối cao.
Thứ hai, lý luận về đường lối đổi mới mang tính thực tiễn sâu sắc. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quán triệt sâu sắc nguyên lý: Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Lý luận không phải là những khẩu hiệu giáo điều, sách vở, mà được kiểm nghiệm và hoàn thiện từ chính hơi thở của phong trào cách mạng quần chúng. Mỗi chủ trương, chính sách lớn của Đảng đều bắt nguồn từ việc tổng kết các mô hình hay, các cách làm sáng tạo từ cơ sở, từ đó khái quát nâng lên thành đường lối chung cho cả nước. Điều này đã bảo đảm cho lý luận của Đảng luôn có sức sống, đi vào cuộc sống và được Nhân dân đồng tình, hưởng ứng.
Thứ ba, lý luận về đường lối đổi mới thể hiện tinh thần tự phê bình và năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn cao của Đảng. Đảng không né tránh khuyết điểm, không tuyệt đối hóa những nhận thức đã có mà luôn chủ động tổng kết thực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh những luận điểm không còn phù hợp với thực tế phát triển. Tầm vóc của Đảng được khẳng định ở năng lực tự vượt lên chính mình, liên tục làm mới tư duy để đáp ứng yêu cầu của thời đại.
Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới của Việt Nam không chỉ có ý nghĩa quốc gia mà còn mang tầm vóc thời đại sâu sắc. Trong bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, công cuộc đổi mới thành công của Việt Nam là một đóng góp to lớn về mặt lý luận và thực tiễn vào kho tàng tư tưởng thế giới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở các quốc gia đang phát triển. Nó chứng minh rằng, chủ nghĩa xã hội không phải là một mô hình xơ cứng, bất biến, mà là một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của quần chúng nhân dân, có thể thích ứng, phát triển mạnh mẽ trong lòng thế giới đương đại nếu có một đường lối lãnh đạo khoa học, đúng đắn.
Bước ngoặt tư duy làm nên tầm vóc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới là minh chứng đanh thép cho bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của một Đảng cách mạng chân chính. Nhờ có sự sắc bén, nhất quán và khoa học trong đường lối lý luận, Đảng đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh hiểm nguy, tạo dựng nên một cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế vững chắc như ngày nay.
(Số sau: II. Từ lý luận đến thực tiễn - sức sống của đường lối đổi mới trong 40 năm phát triển đất nước)
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 95.
2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 84.
3 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 05.
4 - Sđd, tr. 40.
5 - Sđd, Tập I, tr. 117.
6 - Nguồn: https://ttdn.vn/nghien-cuu-trao-doi/su-kien-binh-luan/chuyen-gia-australia-viet-nam-la-hinh-mau-ve-chien-luoc-ngoai-giao-thanh-cong-117593








