Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển – luận điệu xuyên tạc cần đấu tranh, bác bỏ

6/14/2026 9:13:12 AM

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, được minh chứng từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất là thành tựu qua 40 năm đổi mới đất nước. Vì vậy, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới;…”1. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận sự kiên định, bản chất cách mạng, khoa học nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc lịch sử, khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, với mục tiêu đưa quốc gia, dân tộc bước lên một tầm cao mới. Tại Đại hội này, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam, “ngọn đuốc soi đường” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là bước phát triển trong tư duy lý luận, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và sự sáng tạo không ngừng của Đảng ta, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển đất nước. Đồng thời, củng cố niềm tin, sự kiên định tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguồn: qdnd.vn

Những thủ đoạn “đổi trắng thay đen”, dối trá, ngụy biện

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giữa nhịp sống sôi động của thời đại công nghệ số, sự phát triển bùng nổ của internet và không gian mạng, các vấn đề phức tạp nảy sinh từ mặt trái kinh tế thị trường đang đặt ra cho Đảng ta vô vàn khó khăn và thách thức. Một trong số đó là việc các thế lực thù địch, phản động, chống đối trong và ngoài nước không ngừng tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi thủ đoạn khác nhau, với mục đích nhằm phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận của xã hội, cản trở sự phát triển của đất nước. Các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng những luận điệu chống phá rất đa dạng. Không khó để bắt gặp những luận điệu sai trái, thù địch cho rằng “thời đại ngày nay, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là biểu hiện của bảo thủ, trì trệ”; “cản trở sự phát triển của đất nước”, “làm cho Việt Nam không thể “cất cánh”, vươn xa”, v.v. Những lập luận đầy tính toán ấy thoạt nghe tưởng chừng “hợp thời”, “mốt mới”, song thực chất đó là sự ngụy biện, được khoác lên mình bộ áo mới bằng sự lừa gạt, phỉnh nịnh chỉ có thể “gây ô nhiễm nhiều cái đầu non nớt về chính trị”, những người thường “ngộ nhận về sự tốt đẹp của xã hội tư bản”.

Nhiều kẻ chống đối cố tình “đổi trắng thay đen”, cho rằng lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng trong giai đoạn hiện nay là một sự “chắp vá lộn xộn” hòng thúc đẩy việc từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội, “chuyển hướng sang chủ nghĩa tư bản”. Đây là hành động công kích trực tiếp, cố tình phủ nhận thành tựu lý luận quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã nỗ lực không ngừng để xây dựng, bồi đắp, hoàn thiện. Cùng với đó, bằng cách cắt xén, tách rời các quan điểm của Đảng qua từng nhiệm kỳ đại hội khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, các thế lực thù địch cố tình đánh đồng sự phát triển, bổ sung lý luận về đường lối đổi mới của Đảng với “sự thay đổi tùy tiện”, “tiền hậu bất nhất”. Mưu đồ sâu xa là hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, kích động hoài nghi trong một bộ phận người dân, góp phần tạo “cú huých”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, hạn chế nảy sinh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; triệt để khai thác “mặt trái” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như: tham nhũng, lãng phí, phân hóa giàu nghèo, những bất cập về quá trình hoàn thiện thể chế, v.v. Từ đó, tạo dựng nên một bức tranh méo mó về đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam; rồi quy kết rằng đường lối đổi mới của Đảng là “sai lầm cả về lý luận và thực tiễn”.

Những luận điệu xuyên tạc về kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những mũi nhọn tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm mục tiêu gây nhiễu loạn xã hội, suy yếu động lực phát triển đất nước. Những thông tin xuyên tạc này âm mưu từng bước làm lệch chuẩn nhận thức, gieo rắc tâm lý hoài nghi, giảm sút niềm tin về tính đúng đắn của đường lối, quan điểm của Đảng. Hệ quả là nảy sinh tâm lý “thờ ơ về chính trị”, “nhạt Đảng, phai Đoàn”, giảm sút ý thức trách nhiệm công dân. Ở bình diện xã hội, các luận điệu sai trái, xuyên tạc là nhân tố chính, góp phần tạo ra môi trường thông tin nhiễu loạn, nơi ranh giới giữa đúng - sai, tốt - xấu, thật - giả bị xóa nhòa. Đồng thời, kích thích tâm lý bất mãn, khoét sâu mâu thuẫn, làm suy giảm sự đồng thuận xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường. Nham hiểm hơn, những luận điệu xuyên tạc này hướng tới phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chế độ. Không dừng lại ở đó, nó còn gây ra nhiều hệ lụy khó lường, tổn hại không thể đo đếm về nhân lực, vật lực, tài lực và môi trường đầu tư, kinh doanh,... làm gia tăng khó khăn trong tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo nên những “sức ép” đa chiều, cản trở mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Chân lý khoa học - liều thuốc “đặc trị”, vũ khí sắc bén bác bỏ mọi sự xuyên tạc

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng cách mạng, khoa học, tiên tiến, tiếp tục soi sáng cho nhân loại đi tới tương lai tốt đẹp. Đây là một học thuyết khoa học mang tính mở, luôn vận động và phát triển cùng thực tiễn. Chính C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông không phải là “cái đã xong xuôi”, hay “nhất thành bất biến”; “lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”2. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội có mục đích trực tiếp là giải phóng giai cấp vô sản, song bản chất và mục đích sâu xa của chủ nghĩa xã hội hay của chủ nghĩa cộng sản là giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người được tự do và phát triển toàn diện. Quan điểm này của chủ nghĩa Mác - Lênin vừa bao hàm giá trị khoa học, biện chứng, vừa thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo cao cả. Chủ nghĩa Mác, bằng lý luận hoàn bị của mình, khẳng định việc thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, người lao động là tất yếu khách quan, thay thế cho chế độ tư bản chủ nghĩa vốn đã bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết và mâu thuẫn; đồng thời, luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở các nước lạc hậu. Phương pháp tiếp cận khoa học, biện chứng cùng quan điểm có tính cách mạng và nhân văn về bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa là những giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là giữ nguyên từng luận điểm cụ thể mà là giữ vững phương pháp luận khoa học, tinh thần biện chứng và cách tiếp cận lịch sử - cụ thể. Sự kiên định này không đối lập với đổi mới, mà chính là điều kiện để đổi mới có định hướng, tránh rơi vào tùy tiện, vô nguyên tắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chuyển hóa và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta; qua đó, tạo nên hệ thống tư tưởng của mình và tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930. Thực tiễn cách mạng Việt Nam 96 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong 40 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định và chứng minh giá trị, sức sống vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh - minh chứng tiêu biểu cho sự thống nhất giữa kiên định và sáng tạo; là hệ giá trị mở, giàu tính nhân văn và phản ánh rõ đời sống thực tiễn Việt Nam. Tinh thần độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “dân là gốc”, đặt Nhân dân làm trung tâm, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,… là những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của Đảng vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Người thường xuyên nhấn mạnh: học lý luận không phải để “thuộc lòng câu chữ”, “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”3,… Người phê phán gay gắt bệnh giáo điều khi “không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em”4, coi đó là một trong những nguyên nhân làm suy yếu sức sống của cách mạng. Người chỉ rõ: phải sáng tạo và “phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”5. Điều đó cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định chưa bao giờ đối lập với đổi mới. Chính nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt trong phương pháp, cách mạng Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách, giành được những thắng lợi to lớn.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của Việt Nam là đột phá lý luận có tính lịch sử, kết tinh trí tuệ và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tính “đột phá lịch sử” của lý luận này thể hiện ở chỗ nó đã tháo gỡ những ràng buộc của tư duy cũ, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Trước đổi mới, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm lực lượng sản xuất. Việc chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một bước ngoặt mang tính cách mạng về nhận thức. Đây không phải là sự “xa rời” chủ nghĩa xã hội, mà là sự nhận thức đúng đắn hơn về quy luật phát triển, phù hợp với điều kiện cụ thể của một quốc gia đi lên từ nền sản xuất nhỏ, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. Có thể khẳng định rằng chính thực tiễn sinh động của Việt Nam đã góp phần bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. Trên phương diện bản chất cách mạng, khoa học, việc không ngừng bổ sung, phát triển lý luận chính là tiêu chí phản ánh năng lực cầm quyền và trình độ trí tuệ của Đảng. Một đảng cách mạng chân chính không thể tự trói mình trong những khuôn mẫu cứng nhắc, mà phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lý luận để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo xã hội. Sự phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới không chỉ là tất yếu khách quan mà còn là biểu hiện của bản lĩnh chính trị, tư duy độc lập, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điệu xuyên tạc cho rằng sự bổ sung này của Đảng là “tiền hậu bất nhất”, là “biểu hiện của bảo thủ, trì trệ”; “cản trở sự phát triển của đất nước” thực chất phản ánh sự hạn chế về nhận thức, thiếu nền tảng phương pháp luận khoa học và không nắm vững bản chất vận động, phát triển biện chứng của lý luận cách mạng.

Thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước chính là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ nước có xuất phát điểm thấp, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, bao vây, cấm vận, Việt Nam đã từng bước vững chắc vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, song vai trò, sức mạnh của các thành phần kinh tế Việt Nam phát triển năng động. Tính đến hết năm 2025, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 514 tỉ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và phát triển, từ khoảng 100 USD vào cuối thập niên 1980 lên trên 5.000 USD vào năm 2025. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, uy tín và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Những thành tựu về xóa đói, giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước là những bằng chứng không thể phủ nhận về tính đúng đắn của đường lối lãnh đạo của Đảng. Nhiều tổ chức quốc tế, học giả nước ngoài đã nhìn nhận Việt Nam như một “câu chuyện thành công” về phát triển và hội nhập. Điều đáng nói là, trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không hề xa rời nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí Minh mà ngược lại càng kiên định hơn. Chính sự kiên định ấy đã tạo ra “trục ổn định” để đất nước phát triển mà không bị chệch hướng, lạc đường. Đặt trong logic phát triển, nếu “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” thực sự là nguyên nhân của bảo thủ, trì trệ, làm cản trở sự phát triển thì Việt Nam không thể đạt được những thành tựu phát triển nhanh và toàn diện như hiện nay. Thực tế hoàn toàn ngược lại: chính trong quá trình kiên định nền tảng tư tưởng, Việt Nam đã đổi mới thành công và vươn lên mạnh mẽ. Điều đó cho thấy, luận điệu cho rằng “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo thủ, trì trệ, làm cản trở sự phát triển đất nước”, không chỉ sai về lý luận mà còn bị thực tiễn bác bỏ một cách rõ ràng. Bài học của cách mạng Việt Nam trong bốn thập kỷ đổi mới vừa qua đã trả lời rõ ràng, đanh thép rằng: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là điều kiện để phát triển mạnh mẽ và bền vững; Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới dựa chắc trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước những thay đổi nhanh chóng và diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, cũng như sự chống phá của thế lực thù địch, đòi hỏi Đảng cần tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong đó, cần quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Kiên định và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở trung thành với nguyên tắc cách mạng, khoa học và nhân văn, đồng thời vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp lý luận mác-xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu có tính nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng, then chốt đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

Trước hết, cần nâng tầm công tác định hướng tư tưởng từ “phản ứng” sang “dẫn dắt thông tin”. Chủ động ở đây không chỉ là phản bác nhanh, mà quan trọng hơn là tạo ra dòng thông tin chính thống, kịp thời, có sức thuyết phục, từ đó định hướng nhận thức xã hội ngay từ đầu. Một thông tin sai lệch chỉ thực sự bị vô hiệu hóa khi người tiếp nhận hiểu rõ vì sao nó sai. Khi thông tin đúng được cung cấp đầy đủ, minh bạch và hấp dẫn, thì các thông tin sai lệch sẽ tự mất đi “đất sống”. Điều này đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp xây dựng được “hệ sinh thái” thông tin đủ độ tin cậy và hấp dẫn để dẫn dắt dư luận xã hội. Thông tin chính thống không thể khô cứng, một chiều, mà cần được “mềm hóa” thông qua các hình thức truyền tải hiện đại, phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Việc công khai, minh bạch thông tin phải đi đôi với nâng cao năng lực giải thích, thuyết phục, đối thoại, qua đó không chỉ “nói cho đúng” mà còn “nói để người dân tin và làm theo”. Mọi luận cứ bảo vệ lý luận về đường lối đổi mới sẽ trở nên sống động, giàu sức thuyết phục khi được minh chứng bằng thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại, nâng tầm vị thế quốc tế của đất nước.

Trên mặt trận đấu tranh trực diện, các lực lượng nòng cốt cần phát huy vai trò “tiên phong về trí tuệ”, sắc bén về lập luận, chủ động về phương thức. Đấu tranh không chỉ là bác bỏ mà còn là “giải mã cấu trúc” các luận điệu sai trái, chỉ ra bản chất ngụy biện, phi khoa học, phản thực tiễn của chúng. Đặc biệt, trong không gian mạng, nơi thông tin lan truyền theo “cấp số nhân”, cần xây dựng lực lượng đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng, có khả năng phản ứng nhanh, chính xác, thuyết phục. Việc kết hợp giữa “xây” với “chống” phải được thực hiện một cách hài hòa, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài; “chống” là quan trọng, cấp bách. Đồng thời, chuyển hóa đấu tranh tư tưởng thành phong trào xã hội rộng khắp, có sự tham gia của mọi tầng lớp Nhân dân. Trong điều kiện mỗi người dân đều có thể trở thành “một chủ thể truyền thông”, việc nâng cao ý thức công dân số trở nên đặc biệt quan trọng. Mỗi người dân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là người kiểm chứng, sàng lọc và lan tỏa thông tin. Khi mỗi cá nhân có đủ bản lĩnh, tri thức và trách nhiệm thì không gian mạng sẽ không còn là “mảnh đất màu mỡ” cho các luận điệu sai trái tồn tại.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để xử lý các hành vi xuyên tạc, chống phá. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng biện pháp hành chính, pháp lý chỉ là một phần; yếu tố quyết định vẫn là “sức đề kháng” từ bên trong xã hội, được hình thành bởi niềm tin, sự đồng thuận, nhận thức và hành động đúng đắn của người dân. Do đó, kết hợp chặt chẽ giữa “xây dựng niềm tin” và “bảo vệ niềm tin” là yêu cầu mang tính chiến lược. Ngoài ra, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được các cấp ủy triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là động lực tinh thần, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vì vậy, phải tỉnh táo phát hiện, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời, tiếp tục phát huy giá trị của nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những hành động cách mạng cụ thể, thiết thực, để biến lý luận thành sức mạnh vật chất, xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Đại tá ĐINH HỒNG QUÂN, Trưởng phòng Tuyên huấn Quân khu 7


1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 81.

2 - V.I. Lênin –  Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQGST, H. 2005, tr. 232.

3 - Hồ Chí Minh –  Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 312.

4 -  Sđd, Tập 11, tr. 97 - 98.

5 - Sđd, tr. 95.