Tự do báo chí và tự do ngôn luận là những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; song, tuyệt nhiên không phải quyền vô giới hạn, càng không thể trở thành “lá chắn” cho một số tổ chức, cá nhân phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc sự thật, kích động chống phá Nhà nước và gây nhiễu loạn đời sống xã hội. Mọi hành vi lợi dụng “tự do báo chí” để xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc đều đi ngược lại bản chất của tự do chân chính, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.
1. Tự do báo chí là giá trị tiến bộ, nhưng không phải “giấy phép” cho sự vô trách nhiệm
Trong xã hội hiện đại, tự do báo chí được xem là một trong những giá trị nền tảng của đời sống dân chủ. Một nền báo chí lành mạnh sẽ góp phần mở rộng quyền tiếp cận thông tin của công dân, thúc đẩy minh bạch, tăng cường phản biện xã hội và củng cố niềm tin công chúng.
Hiện nay, sự phát triển của internet, mạng xã hội đã mở rộng chưa từng có không gian biểu đạt của con người. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích mà thành tựu của văn minh số mang lại, cũng nảy sinh không ít tiêu cực, khi không gian mạng trở thành môi trường thuận lợi cho tin giả, xuyên tạc nhằm dẫn dắt dư luận, thao túng nhận thức. Một số tổ chức, cá nhân cực đoan lợi dụng môi trường đó để biến hành vi tung tin sai sự thật thành “phản biện xã hội”, biến xuyên tạc thành “đa chiều thông tin”, biến chống phá thành “đấu tranh cho tự do báo chí”, v.v.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn: Internet |
Một trong những thủ đoạn quen thuộc là đánh tráo khái niệm phản biện xã hội hợp pháp với hành vi chống phá, xuyên tạc, kích động, phát tán thông tin sai lệch. Điều này không mới, nhưng được lặp lại với tần suất đủ lớn để tạo ra ảo tưởng rằng: cứ nhân danh “phản biện” thì mọi hành vi đều trở nên chính đáng. Theo cách ngụy biện ấy, thông tin xuyên tạc được gọi là “góc nhìn khác”; tin giả trở thành “sự thật chưa được công nhận”; hành vi kích động cực đoan được gắn nhãn “đấu tranh dân chủ”; còn việc xử lý vi phạm pháp luật bị quy kết thành “đàn áp tự do báo chí”!
Thật ra, chỉ cần bóc đi lớp vỏ mỹ từ, bản chất của các luận điệu ấy hiện rõ là những thông tin xuyên tạc, bóp méo sự thật, chống phá nhằm gieo rắc hoài nghi cực đoan, phủ nhận thành tựu, kích động đối lập xã hội và phá hoại niềm tin công chúng. Còn phản biện xã hội chân chính phải dựa trên thông tin xác thực, lập luận có căn cứ và thiện chí xây dựng, với mục tiêu làm cho chính sách tốt hơn, xã hội minh bạch hơn, quản trị hiệu quả hơn.
Một chiêu trò khác là “gắn nhãn” cảm xúc để thay thế cho đánh giá pháp lý. Một số người được mô tả như “nhà báo độc lập”, “nhà hoạt động dân chủ”, “tù nhân lương tâm”,... để có thể tạo hiệu ứng truyền thông, nhưng không thể thay thế được bản chất hành vi vi phạm pháp luật của họ. Không ai bị pháp luật xử lý chỉ vì có suy nghĩ khác biệt, nhưng hành vi phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, kích động, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì không thể được miễn trừ, dù có đặt dưới chiếc ô “tự do báo chí”.
Cũng cần chỉ ra một lối lập luận rất phổ biến: tuyệt đối hóa khái niệm tự do để phủ nhận mọi hình thức quản lý. Theo đó, bất kỳ biện pháp pháp lý nào đối với tin giả, nội dung độc hại hoặc hành vi xuyên tạc cũng bị quy kết là “bịt miệng báo chí”. Nếu theo logic ấy, mọi quốc gia đang xử lý tin giả đều “chống tự do” sao? Mọi nền tảng bị buộc gỡ bỏ nội dung bất hợp pháp đều là nạn nhân của “kiểm duyệt” chăng? Mọi quy định về trách nhiệm truyền thông đều là “đàn áp dân chủ”? Một kết luận như vậy không chỉ phi thực tế, mà còn phủ nhận toàn bộ nỗ lực của các quốc gia trong việc bảo vệ không gian thông tin công cộng lành mạnh.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn: Internet |
Sự thật là: vấn đề của thế giới hôm nay không phải là có quản lý thông tin hay không, mà là quản lý như thế nào để vừa bảo đảm quyền tự do biểu đạt, vừa bảo vệ xã hội trước tin giả, xuyên tạc. Từ góc độ đó, các đánh giá thiếu khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam cần được nhìn nhận tỉnh táo. Một số tổ chức và báo cáo quốc tế có xu hướng đồng nhất người vi phạm pháp luật với người thực hiện quyền biểu đạt hợp pháp; đồng nhất xử lý hành vi chống phá với “đàn áp báo chí”; đồng nhất các nền tảng truyền thông cá nhân thiếu kiểm chứng với báo chí chuyên nghiệp. Đây là sự lẫn lộn nguy hiểm. Bởi, nếu mọi hành vi nhân danh phản biện đều mặc nhiên được miễn trừ trách nhiệm, thì pháp quyền sẽ mất ý nghĩa thực chất. Khi đó, tự do không còn là quyền được bảo vệ bằng pháp luật, mà bị biến thành đặc quyền đứng ngoài pháp luật.
2. Giới hạn pháp lý của tự do báo chí trên bình diện quốc tế
Một nghịch lý buồn cười là nhiều người thường viện dẫn Điều 19, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới1 (năm 1948) để nói về quyền tự do ngôn luận, rằng, “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt, bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”; nhưng, họ lại cố tình “quên” đọc tiếp những quy định về giới hạn của quyền này. Điều 29 của chính văn kiện này quy định việc thực hiện các quyền và tự do cá nhân phải chịu những giới hạn do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm sự tôn trọng quyền, tự do của người khác, đáp ứng yêu cầu đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong xã hội dân chủ. Tinh thần ấy một lần nữa được cụ thể hóa tại Khoản 3, Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966). Rõ ràng, trong các văn kiện quốc tế quan trọng, quyền tự do ngôn luận luôn được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm xã hội.
Tại Mỹ và các nước phương Tây - nơi thường được viện dẫn như biểu tượng của “tự do báo chí”, các hành vi phát tán thông tin độc hại vẫn luôn bị kiểm soát bằng hệ thống pháp luật nghiêm ngặt. Hệ thống pháp luật Mỹ bảo vệ mạnh mẽ quyền tự do ngôn luận, nhưng không bảo vệ hành vi phỉ báng, vu khống, kích động bạo lực hoặc gây nguy hiểm cho cộng đồng; cho phép cá nhân, tổ chức khởi kiện cơ quan truyền thông nếu thông tin sai sự thật gây thiệt hại đến danh dự, uy tín hoặc lợi ích hợp pháp. Hệ thống pháp luật các nước EU cũng có nhiều quy định tương tự. Tại Pháp, tự do ngôn luận và giao tiếp trên internet thường đi kèm với những hạn chế nhất định.
Điều đó cho thấy sự thật rõ ràng: giới hạn pháp lý đối với tự do báo chí, tự do ngôn luận không phải “đặc thù”, mà là nguyên tắc phổ quát của mọi nhà nước pháp quyền hiện đại. Những người lớn tiếng rao giảng về “tự do tuyệt đối” thường chỉ thích viện dẫn phương Tây ở phần khẩu hiệu, còn phần chế tài pháp lý thì lại lặng lẽ bỏ qua. Đó là sự lựa chọn có chủ ý, nhưng không thể là cơ sở cho một lập luận nghiêm túc.
3. Việt Nam bảo đảm quyền tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật
Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được xác lập thành quyền hiến định và được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Trên nền tảng hiến định đó, trong Luật Báo chí (năm 2025), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng (năm 2025),… tự do ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm. Chẳng hạn như: cùng với mở rộng không gian biểu đạt chính đáng của công dân được quy định tại Điều 5, Điều 7, Luật Báo chí (năm 2025) còn quy định: “1. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. 2. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ…”. Cũng tại Điều này, nguyên tắc báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn, phát sóng, xuất bản trên không gian mạng tiếp tục được khẳng định.
Quyền tự do báo chí được bảo đảm rõ nét hơn bằng sự mở rộng của đời sống thông tin. Tính đến tháng 11/2025, cả nước có 778 cơ quan báo chí, với quy mô rộng, bao phủ từ Trung ương đến địa phương, từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình đến các loại hình tạp chí chuyên ngành, tạp chí khoa học. Quan trọng hơn, báo chí Việt Nam đang chuyển từ phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang chiều sâu, theo hướng chuyên nghiệp hơn về tổ chức, hiện đại hơn về công nghệ, đa dạng hơn về phương thức tiếp cận công chúng và trách nhiệm hơn trong xử lý thông tin. Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; đổi mới trải nghiệm của độc giả, khán giả, thính giả; tạo nguồn thu mới; thúc đẩy công nghiệp nội dung số; đồng thời, giữ vững vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội và chủ quyền thông tin trên không gian mạng.
Sự phát triển ấy cũng được thể hiện ở vai trò ngày càng rõ nét của báo chí trong đời sống đất nước. Báo chí là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; kênh thông tin quan trọng về đường lối, chính sách, pháp luật; diễn đàn để Nhân dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng; công cụ giám sát, phản biện xã hội; lực lượng xung kích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đồng thời là tuyến đầu trong phản bác thông tin sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Tuy nhiên, một nền báo chí phát triển không thể chỉ đo bằng số lượng cơ quan báo chí, số lượng tác phẩm hay tốc độ lan truyền, mà thể hiện ở chất lượng báo chí với tính chính xác, tính nhân văn, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực phụng sự xã hội. Chính vì vậy, bên cạnh các quy định bảo đảm quyền tự do báo chí, Điều 8, Luật Báo chí (năm 2025) quy định cụ thể 14 hành vi bị nghiêm cấm.
4. Thượng tôn pháp luật để bảo vệ giá trị chân chính của tự do báo chí
Trong kỷ nguyên số, khi ranh giới giữa thực và ảo, giữa thông tin xác thực và tin giả trở nên mong manh, bảo vệ tự do báo chí không chỉ là câu chuyện mở rộng không gian biểu đạt, mà cốt lõi là bảo vệ tính xác thực và nhân văn của thông tin. Không một quốc gia pháp quyền nào dung túng cho những hành vi xuyên tạc sự thật hay hợp thức hóa thông tin sai lệch dưới chiếc ô “tự do biểu đạt”. Thiết lập các chế tài xử lý nghiêm minh không hạn chế quyền tự do, mà ngược lại, đó là sự bảo đảm tối thượng cho quyền được tiếp cận sự thật của công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia và giữ gìn môi trường truyền thông lành mạnh.
Trên hành trình đẩy mạnh chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tự do báo chí để vi phạm pháp luật; bảo vệ không gian sinh tồn của một nền báo chí cách mạng chân chính: chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; đủ bản lĩnh để bảo vệ sự thật, đủ trách nhiệm để phụng sự Nhân dân.
NGUYỄN THỊ MINH HUẾ, Phó Vụ trưởng Vụ Báo chí - Xuất bản, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
_______________________
1 - Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 271A(III) ngày 10/12/1948.


