Dân chủ xã hội chủ nghĩa - bản chất ưu việt và hiện thực sống động ở Việt Nam

1/12/2026 9:10:01 AM

Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật vận động của lịch sử nhân loại và đáp ứng khát vọng hàng ngàn đời của loài người tiến bộ. Ở Việt Nam, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”1. Bản chất tốt đẹp, ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu sinh động, cụ thể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. 

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước luôn coi nền dân chủ của Việt Nam là một trọng điểm để họ tập trung xuyên tạc, chống phá.

Suốt tiến trình đổi mới đất nước, các luận điệu sai trái ấy liên tục xuất hiện và thời gian gần đây lại gia tăng với nhiều biểu hiện tinh vi hơn, nhất là trong giai đoạn trước thềm Đại hội XIV của Đảng. Hoạt động chống phá của họ chủ yếu tập trung vào hai hướng, có mối quan hệ chặt chẽ: xuyên tạc, bóp méo bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; hạ thấp và phủ nhận những thành tựu của nền dân chủ ở nước ta.

Trên hướng thứ nhất, họ tập trung công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa; phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng, phát triển đất nước. Họ cho rằng, dân chủ ở Việt Nam là “dân chủ giả hiệu”, “dân chủ hình thức”, “Đảng áp đặt ý chí đối với xã hội”, tìm cách phủ nhận bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, v.v. Trên cơ sở đó, họ ra sức cổ súy “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, hô hào “mở rộng dân chủ” theo khuynh hướng tự do cực đoan; đồng thời xuyên tạc, vu khống Đảng ta là “trở lực” của dân chủ, thần tượng hóa dân chủ tư sản, kích thích chủ nghĩa tự do và lối sống thực dụng, v.v.

Trên hướng thứ hai, họ lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “quyền con người”, “tự do báo chí”, cùng những khó khăn, hạn chế nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất dân chủ ở Việt Nam; vu cáo Nhà nước ta “không có dân chủ”, “mất dân chủ”, “vi phạm dân chủ”; từ đó phủ nhận những thành quả cách mạng và những bước tiến quan trọng trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Các luận điệu chống phá trên được tung lên, thổi phồng và lan truyền rộng rãi trên khắp các phương tiện thông tin, truyền thông và các nền tảng mạng xã hội, tìm cách “lái” nền dân chủ nước ta theo mô hình “dân chủ phương Tây”, tiến tới thủ tiêu nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, thậm chí lẫn lộn trong đánh giá về giá trị dân chủ; tạo sự dao động về tư tưởng, niềm tin ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nước ta là tốt đẹp, ưu việt, không thể xuyên tạc

Đó là nền dân chủ khác hẳn về bản chất, đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản, thể hiện trên những nội dung chủ yếu. Thứ nhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền; được phát huy đầy đủ trong xây dựng xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thứ hai, đó là nền dân chủ của đa số, vì đa số nhân dân lao động; thể hiện tư tưởng “dân là chủ và dân làm chủ”, “địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”2. Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước, thực hiện quyền làm chủ thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp. Thứ ba, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm, “nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân”3. Thứ tư, dân chủ được thực thi thông qua hệ thống tổ chức thể hiện quyền lực chính trị - xã hội của Nhân dân, tập trung và biểu hiện qua Nhà nước; con người “là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”4, Nhân dân phát huy cao nhất tính tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ năm, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5 được thể chế bằng hệ thống quy chế, thiết chế dân chủ; là chuẩn mực ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong quan hệ với Nhân dân. Thứ sáu, cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là nền tảng vững chắc của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thứ bảy, phát huy dân chủ luôn gắn liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân; mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương, pháp luật là quy luật cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nước ta.

Đông đảo cựu chiến binh và người dân hân hoan chào mừng Lễ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguồn: nld.com.vn

Đặc biệt, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ Nhân dân, vì lợi ích của Nhân dân, quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”6; phấn đấu cho “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”7, quan tâm “Chăm lo đời sống những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi”8. Dân chủ trong nội bộ các cơ quan nhà nước, cơ quan dân cử, trong Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp cũng thường xuyên được tăng cường, được thể chế hóa ngày càng đầy đủ. Mới đây, ngày 12/8/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 93/2025/UBTVQH15 quy định việc thực hiện dân chủ định việc thực hiện dân chủ trong nội bộ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân.

Những vấn đề rất cơ bản trên hợp thành và phản ánh bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy đang trong quá trình phát triển, nhưng chế độ dân chủ ở nước ta đã chứng minh bản chất tốt đẹp và tính ưu việt, hoàn toàn khác với mọi chế độ dân chủ trong lịch sử, như V.I. Lênin khẳng định: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần: Chính quyền xô‐viết so với nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”9. Nền dân chủ tư sản mà các thế lực thù địch cố tình hướng lái chúng ta phải noi theo, dù được tô vẽ thế nào, vẫn là dân chủ của thiểu số, phụng sự cho sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với nhân dân lao động và xã hội. Giáo sư Paul Mishler, Trường Đại học bang Indiana cho rằng: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống”10 từ nền dân chủ ấy - dân chủ tư sản. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ là những luận điệu phi lý, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Những thành tựu của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa nước ta là hiện thực sống động, không thể phủ nhận, bóp méo

Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử, Nhân dân lao động Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, tự mình tổ chức, quản lý và xây dựng xã hội mới. Từ đó đến nay, trong các văn kiện đại hội Đảng và các bản Hiến pháp, quyền làm chủ của Nhân dân luôn được khẳng định nhất quán, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, thể chế hóa và thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm quyền dân chủ của Nhân dân được thực thi bằng các cơ chế ngày càng cụ thể, minh bạch và hiệu quả trong thực tiễn.

Bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng được khẳng định bằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới. Đất nước giữ vững ổn định chính trị; kinh tế phát triển năng động; văn hóa - xã hội tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao; các quyền cơ bản của con người được tôn trọng, bảo đảm và thực hiện ngày càng đầy đủ. “Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài”11. Theo Báo cáo Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) toàn cầu được UNDP và Sáng kiến nghèo đói và phát triển con người (OPHI) tại Đại học Oxford (Anh) năm 2023, Việt Nam là một trong 25 quốc gia đã hạ được chỉ số MPI xuống một nửa trong vòng 15 năm12; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2024 còn 4,06%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng13.

Hệ thống an sinh xã hội phát triển thành mạng lưới bao trùm, toàn diện, lấy con người làm trung tâm. Các quyền tự do cơ bản của công dân: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được bảo đảm. Đến năm 2024, nước ta có 78,44 triệu người dùng internet (chiếm 79,1% dân số), 73,3% dân số sử dụng mạng xã hội14. Cả nước có trên 27 triệu tín đồ tôn giáo, với hàng chục nghìn chức sắc, chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Đời sống dân chủ trong xã hội ngày càng tiến bộ, đi vào chiều sâu, thực chất. Công dân tham gia quản lý xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu do mình lựa chọn. Nhân dân “thực hiện quyền làm chủ, phát huy khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận trong xã hội.

Sinh hoạt dân chủ trong các cơ quan dân cử, hành chính và tư pháp các cấp có những khởi sắc đáng ghi nhận, được Nhân dân đồng tình ủng hộ cao”15. Các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thực sự là ngày hội lớn của toàn dân (không chỉ là của cử tri); với tỷ lệ cử tri đi bầu cử rất cao16, tỷ lệ đại biểu trúng cử là người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo, phụ nữ, người trẻ tuổi tăng dần. Quốc hội khóa XV có 30,26% đại biểu là phụ nữ (xếp thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thứ 9/135 nước trên thế giới); 17,84% là người dân tộc thiểu số (lần đầu tiên có đại diện hai dân tộc rất ít người là Lự và Brâu tham gia); 9,42% đại biểu dưới 40 tuổi, phản ánh rõ nét tính đại diện, bình đẳng và nhân văn của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Những luận chứng nêu trên, tuy chưa phải đã bao quát toàn diện, nhưng đủ cơ sở để khẳng định: dù còn những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn mang bản chất tốt đẹp, ưu việt và được thể hiện sinh động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực tiễn đó bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, thủ đoạn cố tình “đổi trắng thay đen”, hạ thấp và phủ định của các thế lực thù địch, phản động. Đây là hiện thực khách quan, không thể xuyên tạc; đồng thời, là cơ sở khoa học và thực tiễn để bác bỏ mọi luận điệu sai trái nhằm phủ định nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta kiên định xây dựng./.

PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HƯỞNG - Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN TRUNG
___________________
        

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 84 - 85.

2 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 434.

3 - Sđd, Tập 9, tr. 382.

4 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 116.

5 - Sđd, tr. 96.

6 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 81.

7 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG. H. 2011, tr. 70.

8 - Sđd, tr. 80.

9 - V.I.Lênin – Toàn tập, Tập 37, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tr. 312 - 313.

10 - https://nhandan.vn/dan-chu-phu-thuoc-vao-ly-tuong-va-ban-chat-chinh-tri-cua-dang-cam-quyen-post381549.html.

11 - Tổng Bí thư Tô Lâm – Rạng rỡ Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân Online, ngày 02/02/2025.

12 - https://nhandan.vn/thanh-tuu-giam-ngheo-o-viet-nam-la-khong-the-phu-nhan-post795442.html.

13 - https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/974002/phat-trien-kinh-te%2C-khong-ngung-nang-cao-doi-song-cua-nhan-dan-theo-di-huan-cua-chu-tich-ho-chi-minh.aspx.

14 - https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/phat-trien-noi-dung-so-cua-co-quan-bao-chi-trong-boi-canh-hien-nay-p28777.html.

15 - ĐCSVN – Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, H. 5/2025, tr. 190.

16 - Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu bầu cử: Quốc hội khóa I: 89%; Quốc hội khóa II: 97,52%; Quốc hội khóa IV: 98,88%; Quốc hội khóa V: 98,26%; Quốc hội khóa VII: 97,96%; Quốc hội khóa VIII: 98,75%; Quốc hội khóa IX: 99,12%; Quốc hội khóa X: 99,59%; Quốc hội khóa XI: 99,73%; Quốc hội khóa XII: 99,64%; Quốc hội khóa XIII: 99,51%; Quốc hội khóa XV: 99,57%.