Quốc phòng tối ưu của Việt Nam là không phải tiến hành chiến tranh

5/27/2020 3:20:49 PM

Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn coi trọng giữ vững ổn định bên trong và hòa hiếu, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc khác để xây dựng và phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam, trong đó Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, nhằm ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nền hòa bình bền vững mà không phải tiến hành chiến tranh. Đó là mục tiêu cơ bản, tối thượng của quốc phòng Việt Nam.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, “thái bình tu trí lực, vạn cổ cựu giang san”,… đó là những tư tưởng cơ bản của các triều đại phong kiến Việt Nam, tạo nên truyền thống vẻ vang của dân tộc. Kế thừa truyền thống đó, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã không ngừng phát triển tư duy, nhận thức về quốc phòng, nhất là thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Nếu như trước đây, tư duy, nhận thức của Đảng còn nặng về chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, đánh thắng trong các cuộc chiến tranh, thì tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Đảng ta chỉ rõ: đất nước ta vừa có hòa bình, vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh nhiều mặt,… đồng thời phải sẵn sàng đối phó với tình huống địch có thể gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã từng bước phát triển tư duy, nhận thức về quốc phòng, biểu hiện rõ nhất là từ tư duy chủ yếu về đánh thắng trong các cuộc chiến tranh đến tư duy bảo vệ Tổ quốc là cơ bản. Trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc (Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và khóa XI) Đảng ta khẳng định: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa,… giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019, nêu rõ: chuẩn bị chu đáo mọi mặt, đồng bộ từ thời bình, sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh xâm lược, đồng thời khẳng định: tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong thời bình của quốc phòng Việt Nam, nhằm thực hiện chiến lược quốc phòng tối ưu là bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc mà không cần phải tiến hành chiến tranh. Để thực hiện được điều đó, chúng ta cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp cơ bản, lâu dài trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, vì quốc phòng Việt Nam là quốc phòng toàn dân, không phải của riêng những người làm công tác quốc phòng. Bài viết xin trao đổi một số vấn đề sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng. Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền tảng chính trị, tinh thần là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng. Vì thế, phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình và ra các quyết định có tính đột phá, vượt trội về quốc phòng; năng lực hoạch định đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết về quốc phòng. Để thực hiện được điều đó, Đảng ta phải thực sự trong sạch, vững mạnh, bản lĩnh, trí tuệ, đoàn kết, kỷ cương, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, v.v. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và hoạt động của chính quyền các cấp, thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược Quốc phòng cả trong thời bình và thời chiến. Thường xuyên củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; coi trọng quản lý Nhà nước về quốc phòng theo pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống các nhận thức sai trái, đề cao lợi ích kinh tế, coi nhẹ lợi ích quốc phòng. Ngoài ra, cần phát huy cao độ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Một Đảng bản lĩnh, trí tuệ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhân dân đồng lòng, Quân đội trung thành, tin cậy thì không một thế lực nào có thể xâm phạm được, đây là nhân tố bên trong, cơ bản, quan trọng, quyết định đối với quốc phòng.

2. Kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Có thể khẳng định, một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được. Một cuộc chiến tranh nhân dân như vậy cần phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt ngay trong thời bình, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là cơ sở quan trọng để loại trừ chiến tranh. Sức mạnh được chuẩn bị trước cùng với khả năng sẵn sàng chiến đấu của đất nước – tiềm lực quốc phòng là điều kiện tiên quyết để giành thắng lợi khi chiến tranh xảy ra. Theo đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cần được tiến hành toàn diện, kiên quyết, triệt để ngay từ thời bình. Coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của người dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, không ngừng tăng cường tiềm lực cho quốc phòng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, độc lập, tự chủ trong hợp tác quốc tế về kinh tế. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; ứng dụng thành quả của khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp quốc phòng và trang bị ngày càng tốt hơn cho lực lượng vũ trang.

Cùng với đó, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến xây dựng lực lượng của nền quốc phòng toàn dân, sẵn sàng vũ trang toàn dân, không ngừng nâng cao sức mạnh quân sự Nhà nước, nòng cốt là sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, chất lượng cao. Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, cơ động, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, coi trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, kiên quyết chống “phi chính trị hóa” Quân đội, bảo đảm Quân đội là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đầu tư mua sắm một số loại vũ khí hiện đại, có sức răn đe chiến lược, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi chiến tranh ngay từ thời bình và sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo. Xây dựng các lực lượng chấp pháp, lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo thành lực lượng chuyên trách có tính chuyên nghiệp cao. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở từng địa phương, trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung vào các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngày càng vững chắc. Kết hợp chặt chẽ xây dựng thế trận về chính trị, coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” là nòng cốt, với xây dựng thế trận về kinh tế và quân sự. Xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, nâng cao chất lượng các công trình quân sự, quốc phòng trọng điểm; gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đấu tranh kiên quyết với các nhận thức lệch lạc về đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, đồng thời khẳng định đó là đường lối duy nhất đúng của quốc phòng Việt Nam.

3. Tích cực hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Mở rộng hợp tác quốc tế về quốc phòng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Quân đội, đất nước, vượt qua thách thức, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh. Triển khai thực hiện Chiến lược Hội nhập quốc tế và Đối ngoại quốc phòng của Đảng, thực hiện kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng các biện pháp hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm bình đẳng cùng có lợi; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ đất nước. Theo đó, Việt Nam cần tăng cường và mở rộng hợp tác, xây dựng lòng tin với các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, các nước lớn, láng giềng, trong khu vực, bạn bè truyền thống, tập trung vào các lĩnh vực mà các bên có thế mạnh. Chủ động tham gia hợp tác đa phương về quốc phòng, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh. Trong hoạt động đối ngoại, cần tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Nâng cao tính chiến đấu, kiên quyết giữ vững các nguyên tắc chiến lược, nhưng khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, không làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, độc lập, chủ quyền của đất nước. Cần cảnh giác đề phòng trước sự thỏa hiệp của các nước lớn, không mắc mưu khiêu khích của nước ngoài, nhất là các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, không để hình thành mâu thuẫn, tạo cớ để nước ngoài và các thế lực thù địch lợi dụng gây xung đột, chiến tranh.

4. Chủ động đấu tranh quốc phòng, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột, chiến tranh. Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng, làm cho đất nước không phải đối mặt với nguy cơ xung đột và chiến tranh. Muốn vậy, chúng ta phải thường xuyên nắm chắc và đánh giá đúng tình hình mọi mặt, chủ động dự báo, nhất là dự báo về chiến lược, về quốc phòng và các tình huống liên quan đến xung đột, chiến tranh. Chuẩn bị tâm lý, ý chí, quyết tâm cho Quân đội và nhân dân; xây dựng các phương án, kế hoạch tác chiến và đấu tranh chặt chẽ. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chúng; có kế hoạch đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Phát hiện sớm, triệt tiêu các mầm mống có thể dẫn đến xung đột, chiến tranh, gây rối, biểu tình, bạo loạn, ly khai,… không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập; ngăn chặn bùng phát các hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tranh chấp trên Biển Đông để chống phá Đảng và Nhà nước. Chủ động nắm, đánh giá, dự báo tình hình, có kế sách, phương án xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, nhất là các tình huống xảy ra trên biên giới, biển, đảo. Coi trọng đấu tranh trên thực địa kết hợp với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao; kiên trì phương châm giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình.

Trung tướng, PGS, TS. TRẦN THÁI BÌNH